Bài 3                                          

 

Lời Chứng Của Giăng Báp-tít

(1:19-34)

 

19Nầy là lời chứng của Giăng, khi dân Giu-đa sai mấy thầy tế lễ, mấy người Lê-vi từ thành Giê-ru-sa-lem đến hỏi người rằng: Ông là ai?  20Người xưng ra, chẳng chối chi hết, xưng rằng mình không phải là Ðấng Christ.  21Họ lại hỏi: Vậy thì ông là ai? phải là Ê-li chăng? Người trả lời: Không phải. Ông phải là đấng tiên tri chăng: Người trả lời: Không phải.  22Họ bèn nói: Vậy thì ông là ai? hầu cho chúng tôi trả lời cùng những người đã sai chúng tôi đến. Ông tự xưng mình là ai:  23Người trả lời: Ta là tiếng của người kêu trong đồng vắng rằng: Hãy ban đường của Chúa cho bằng, như đấng tiên tri Ê-sai đã nói.  24Những kẻ chịu sai đến cùng Giăng đều là người Pha-ra-si.  25Họ lại hỏi rằng: Nếu ông chẳng phải Ðấng Christ, chẳng phải Ê-li, chẳng phải đấng tiên tri, thì cớ sao ông làm phép báp tem?  26Giăng trả lời: Về phần ta, ta làm phép báp tem bằng nước; nhưng có một Ðấng ở giữa các ngươi mà các ngươi không biết.  27Ấy là Ðấng đến sau ta, ta chẳng đáng mở dây giày Ngài.  28Những việc đó đã xảy ra tại thành Bê-tha-ni, bên kia sông Giô-đanh, là nơi Giăng làm phép báp tem.

29Qua ngày sau, Giăng thấy Ðức Chúa Jêsus đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Ðức Chúa Trời, là Ðấng cất tội lỗi thế gian đi.  30Ấy về Ðấng đó mà ta đã nói: Có một người đến sau ta, trổi hơn ta, vì người vốn trước ta.  31Về phần ta, ta vốn chẳng biết Ngài; nhưng ta đã đến làm phép báp-tem bằng nước, để Ngài được tỏ ra cho dân Y-sơ-ra-ên.  32Giăng lại còn làm chứng nầy nữa: Ta đã thấy Thánh Linh từ trời giáng xuống như chim bò câu, đậu trên mình Ngài.  33Về phần ta, ta vốn không biết Ngài; nhưng Ðấng sai ta làm phép báp-tem bằng nước có phán cùng ta rằng: Ðấng mà ngươi sẽ thấy Thánh Linh ngự xuống đậu lên trên, ấy là Ðấng làm phép báp-tem bằng Ðức Thánh Linh.  34Ta đã thấy nên ta làm chứng rằng: Ấy chính Ngài là Con Ðức Chúa Trời.  35Ngày mai, Giăng lại ở đó với hai môn đồ mình;  36nhìn Ðức Chúa Jêsus đi ngang qua, bèn nói rằng: Kìa, Chiên con của Ðức Chúa Trời!  37Hai môn đồ nghe lời đó, bèn đi theo Ðức Chúa Jêsus.

 

Ngày xưa Áp-ra-ham bởi đức tin vâng lời Chúa gọi, đi đến xứ mình sẽ nhận làm cơ nghiệp.  Người đi mà không biết mình đi đâu.  Bởi đức tin, người kiều ngụ trong xứ đã hứa cho mình, như trên đất ngọai quốc. . . Cũng chỉ vì đó mà chỉ một người, lại là một người già yếu, sanh ra muôn vàn con cháu, đông như sao trên trời, như cát bãi biển, không thể đếm được (Hê-bơ-rơ 11:8-12).  Đang sống an nhàn tại nơi đầy tiện nghi mà lại cất bước ra đi như Áp-ra-ham không phải là điều dễ làm.

Cũng bởi đức tin, Môi-se bỏ danh hiệu mình là con trai công chúa Pha-ra-ôn, đành cùng dân Đức Chúa Trời chịu hà hiếp hơn là tạm hưởng sự vui sướng của tội lỗi. . .  Bời đức tin, người lìa bỏ xứ Ê-díp-tô không sợ vua giận; vì người đứng vữ như thấy Đấng không thấy được (Xuất Ai-cập Ký 11:24,25,27).  Đang sống trong địa vị quyền quí cao sang mà lại từ bỏ bổng lộc triều đình để chịu chung số phận khổ đau với dân tộc mình cũng không phải là điều dễ thực hiện.  Càng khó hơn nữa là khi Môi-se từ sa mạc trở về đối diện với vua Pha-ra-ôn và cố gắng thuyết phục nhà vua để cho tuyển dân của Chúa ra đi.

Tựa như Áp-ra-ham và Môi-se, Giăng Báp-tít là người được Chúa chọn để làm công việc khó có ai khác có thể làm.  Giăng có đời sống vô cùng đơn sơ, đạm bạc.  Ông không để cho mình phải bị lệ thuộc vào trần thế.  Ông ăn thức ăn có sẵn trong thiên nhiên.  Ông mặc trang phục có sẵn trong thiên nhiên.  Lời ông nói là lời của người thánh thiện.  Nhờ ơn Chúa, ông hấp dẫn biết bao dân chúng quanh miền.  Từ những người cùng đinh cho đến những người đầy quyền bính, có rất nhiều người muốn tìm đến nơi cư ngụ hoang vắng của Giăng Báp-tít để nghe ông rao giảng về sự ăn năn để được tha tội.  Khi nói về Giăng Báp-tít, Chúa Giê-xu dùng những lời thật tốt để khen thưởng ông:

7Khi họ ra về, Ðức Chúa Jêsus mới phán về việc Giăng cho đoàn dân nghe, rằng: Các ngươi đã đi xem chi trong đồng vắng? Có phải xem cây sậy bị gió rung chăng?  8Các ngươi đi xem cái chi nữa? Có phải xem người mặc áo tốt đẹp chăng? Kìa, những người mặc áo tốt đẹp thì ở trong đền vua.  9Nhưng các ngươi lại đi xem cái chi nữa? Có phải là xem đấng tiên tri chăng? Phải, ta nói cùng các ngươi, cũng hơn đấng tiên tri nữa.  10Ấy vì người đó mà có chép rằng: Nầy, ta sai sứ ta đến trước mặt con, Ðặng dọn đường sẵn cho con đi.  11Quả thật, ta nói cùng các ngươi, trong những người bởi đờn bà sanh ra, không có ai được tôn trọng hơn Giăng Báp-tít, nhưng mà kẻ rất nhỏ hèn trong nước thiên đàng còn được tôn trọng hơn người.  12Song, từ ngày Giăng Báp-tít đến nay, nước thiên đàng bị hãm ép, và là kẻ hãm ép đó choán lấy.  13Vì hết thảy các đấng tiên tri và sách luật đã nói trước cho đến đời Giăng.  14Nếu các ngươi muốn hiểu biết, thì ấy là Ê-li, là đấng phải đến.  15Ai có tai mà nghe, hãy nghe (Ma-thi-ơ 11:7-15).

Vua chư hầu Hê-rốt dù đầy uy quyền trong tay vẫn phải nghe lời Giăng Báp-tít nói và khiếp sợ mặc dù trước đó đã từng bị ông khiển trách.

14Vả, vua Hê-rốt nghe nói về Ðức Chúa Jêsus (vì danh tiếng Ngài đã trở nên lừng lẫy), thì nói rằng: Giăng, là người làm phép báp-tem, đã từ kẻ chết sống lại; cho nên tự người làm ra các phép lạ.  15Người thì nói: Ấy là Ê-li; kẻ thì nói: Ấy là đấng tiên tri, như một trong các đấng tiên tri đời xưa.  16Nhưng Hê-rốt nghe vậy, thì nói rằng: Ấy là Giăng mà ta đã truyền chém, người đã sống lại.  17Số là, Hê-rốt đã sai người bắt Giăng, và truyền xiềng lại cầm trong ngục, bởi cớ Hê-đô-đia, vợ Phi-líp em vua, vì vua đã cưới nàng, 18và Giăng có can vua rằng: Vua không nên lấy vợ em mình.  19Nhơn đó, Hê-rô-đia căm Giăng, muốn giết đi.  20Nhưng không thể giết, vì Hê-rốt sợ Giăng, biết là một người công bình và thánh. Vua vẫn gìn giữ người, khi nghe lời người rồi, lòng hằng bối rối, mà vua bằng lòng nghe (Mác 6:14-20).

Ngay cả những nhà lãnh đạo tôn giáo đương thời cũng cảm phục Giăng Báp-tít về lời giảng thẳng thắn, chân thành, sống động và đầy linh năng của ông.  Mục vụ của Giăng Báp-tít mang tính cách tâm linh thuần túy.  Ông chỉ rao giảng chân lý, dạy dỗ lẽ đạo.  Ngòai ra ông không đáp ứng những nhu cầu thể chất của những người đến cùng ông.  Bên cạnh ông không có ban quản trị, ban chấp hành.  Khi đến nghe ông rao giảng, dân chúng không có mái nhà để che nắng, không có ghế để ngồi, không có chỗ để gởi con trẻ, không có nước uống, không có thức ăn, không được chữa lành vì trong suốt cả thời gian hầu việc Chúa, Giăng chẳng từng làm một phép lạ nào cả.  Dù vậy, số người đến cùng Giăng Báp-tít đông lắm:

7Vậy, Giăng nói cùng đoàn dân đến để chịu mình làm phép báp-tem rằng: Hỡi dòng dõi rắn lục, ai đã dạy các ngươi tránh khỏi cơn thạnh nộ ngày sau?  8Thế thì, hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn; và đừng tự nói rằng: Áp-ra-ham là tổ phụ chúng ta; vì ta nói cùng các ngươi, Ðức Chúa Trời có thể khiến từ những đá nầy sanh ra con cái cho Áp-ra-ham được.  9Cái búa đã để kề gốc cây; hễ cây nào không sanh trái tốt thì sẽ bị đốn và chụm.  10Chúng bèn hỏi Giăng rằng: Vậy thì chúng tôi phải làm gì?  11Người đáp rằng: Ai có hai áo, hãy lấy một cái cho người không có; và ai có đồ ăn cũng nên làm như vậy.  12Cũng có những người thâu thuế đến để chịu phép báp-tem; họ hỏi rằng: Thưa thầy, chúng tôi phải làm gì?  13Người nói rằng: Ðừng đòi chi ngoài số luật định.  14Quân lính cũng hỏi rằng: Còn chúng tôi phải làm gì? Người nói rằng: Ðừng hà hiếp, đừng phỉnh gạt ai hết, những hãy bằng lòng về lương hướng mình.  15Bởi dân chúng vẫn trông đợi, và ai nấy đều tự hỏi trong lòng nếu Giăng phải là Ðấng Christ chăng, 16nên Giăng cất tiếng nói cùng mọi người rằng: Phần ta làm phép báp-tem cho các ngươi bằng nước; song có một Ðấng quyền phép hơn ta sẽ đến, ta không đáng mở dây giày Ngài. Chính Ngài sẽ làm phép báp-tem cho các ngươi bằng Ðức Thánh Linh và bằng lửa.  17Tay Ngài sẽ cầm nia mà giê thật sạch sân lúa mình, và thâu lúa mì vào kho; nhưng đốt trấu trong lửa chẳng hề tắt.  18Trong khi Giăng rao truyền Tin Lành, thì cũng khuyên bảo dân chúng nhiều điều nữa (Lu-ca 3:7-18).

Sau khi Giăng qua đời, ảnh hưởng của ông vẫn còn mạnh.  Sứ điệp ông rao truyền lan rộng đến những miền xa.  Chính sứ đồ Phi-e-rơ cũng dùng lời Giăng Báp-tít rao giảng đề biện minh cho hành động của mình trong nhà Cot-nây:

15Ta mới khởi sự nói, thì có Ðức Thánh Linh giáng trên họ, cũng như ban đầu Ngài đã giáng trên chúng ta.  16Ta bèn nhớ lại lời Chúa đã truyền rằng: Giăng đã làm phép báp-tem bằng nước; nhưng các ngươi sẽ chịu phép báp-tem bằng Ðức Thánh Linh.  17Vậy, nếu Ðức Chúa Trời đã ban cho họ cũng một ơn như cho chúng ta, là kẻ đã tin đến Ðức Chúa Jêsus Christ, thì ta là ai, mà ngăn trở Ðức Chúa Trời được?  18Tín đồ nghe bấy nhiêu lời xong, đều thỏa thuận và ngợi khen Ðức Chúa Trời, rằng: Vậy Ðức Chúa Trời cũng đã ban sự ăn năn cho người ngoại để họ được sự sống! (Công Vụ 11:15-18).

Phao-lô cũng đề cập đến sứ điệp và mục vụ của Giăng Báp-tít trong Tin Lành mà ông rao giảng: 

23Theo lời hứa, Ðức Chúa Trời bèn bởi dòng dõi người mà dấy lên cho dân Y-sơ-ra-ên một Cứu Chúa, tức là Ðức Chúa Jêsus.  24Trước khi Ðức Chúa Jêsus chưa đến, Giăng đã giảng dạy phép báp-tem về sự ăn năn cho cả dân Y-sơ-ra-ên.  25Giăng đang lo làm trọn công việc mình, thì nói rằng: Ta chẳng phải là Ðấng mà các ngươi tưởng; nhưng có Ðấng đến sau ta, ta chẳng xứng đáng mở dây giày Ngài (Công Vụ 13:23-25).

Trước khi gặp A-qui-la và Bê-rít-xin, A-bô-lô, một người hiểu biết Lời Chúa và khéo nói,  chỉ biết có phép báp-têm của Giăng Báp-tít mà thôi:

24Bấy giờ có một người Giu-đa tên là A-bô-lô, quê tại thành A-léc-xan-tri, là tay khéo nói và hiểu Kinh Thánh, đến thành Ê-phê-sô.  25Người đã học đạo Chúa; nên lấy lòng rất sốt sắng mà giảng và dạy kĩ càng những điều về Ðức Chúa Jêsus, dẫu người chỉ biết phép báp-têm của Giăng mà thôi (Công Vụ 18:24-25).

Khi đến Ê-phê-sô, Phao-lô gặp những người đã từng theo Giăng Báp-tít trước đó và họ cũng chỉ biết có phép báp têm của Giăng mà thôi:

1Trong khi A-bô-lô ở thành Cô-rinh-tô, Phao-lô đã đi khắp những miền trên, rồi xuống thành Ê-phê-sô, gặp một vài môn đồ ở đó.  2Người hỏi rằng: Từ khi anh em tin, có lãnh được Ðức Thánh Linh chăng! Trả lời rằng: Chúng ta cũng chưa nghe có Ðức Thánh Linh nào. Người lại hỏi: Vậy thì anh em đã chịu phép báp-tem nào?  3Trả lời rằng: Phép báp-tem của Giăng.  4Phao-lô bèn nói rằng: Giăng đã làm phép báp-tem về sự ăn năn tội, mà truyền dân phải tin Ðấng sẽ đến sau mình, nghĩa là tin Ðức Chúa Jêsus.  5Chúng nghe bấy nhiêu lời, bèn chịu phép báp-têm nhơn danh Ðức Chúa Jêsus.  6Sau khi Phao-lô đã đặt tay lên, thì có Ðức Thánh Linh giáng trên chúng, cho nói tiếng ngoại quốc và lời tiên tri.  7Cọng hết thảy độ mười hai người (Công Vụ 19:1-7).

Những điều vừa kể giúp chúng ta thấy rõ ảnh hưởng rộng lớn và sâu đậm của người làm công việc mở đường cho chức vụ của Chúa Giê-xu.  Rất có thể sứ đồ Giăng, tác giả của Sách Tin Lành Giăng, 3 thư tín và Khải Huyền, cũng là môn đồ của Giăng Báp-tít trước khi tin nhận Chúa Giê-xu và trở nên môn đồ yêu dấu của Ngài.  Những điều sứ đồ Giăng viết về Giăng Báp-tít trong mối tương quan với Đấng Cứu Thế là những lời đầy sự quí mến kính trọng của một người học trò đối với thầy của mình.

Khi so sánh một vài khác biệt giữa Giăng Báp-tít và Đấng Christ, chúng ta có thể thấy những điểm sau đây:

Giăng

Chúa Giê-xu

đến

là một người

được Đức Chúa Trời sai đến

đến để làm chứng về sự sáng

đến để dẫn người ta đến niềm tin

là Đấng hiện hữu từ cõi đời đời

là Ngôi Lời

là chính Đức Chúa Trời

là chính sự sáng

là đối tượng của niềm tin

Trên đây là những lý do căn bản khiến Giăng Báp-tít tuyên bố: Ðấng đến sau ta trổi hơn ta, vì Ngài vốn trước ta. . .  Ngài phải dấy lên, ta phải hạ xuống.

Câu 19-23

19Nầy là lời chứng của Giăng, khi dân Giu-đa sai mấy thầy tế lễ, mấy người Lê-vi từ thành Giê-ru-sa-lem đến hỏi người rằng: Ông là ai?  20Người xưng ra, chẳng chối chi hết, xưng rằng mình không phải là Ðấng Christ.  21Họ lại hỏi: Vậy thì ông là ai? phải là Ê-li chăng? Người trả lời: Không phải. Ông phải là đấng tiên tri chăng: Người trả lời: Không phải.  22Họ bèn nói: Vậy thì ông là ai? hầu cho chúng tôi trả lời cùng những người đã sai chúng tôi đến. Ông tự xưng mình là ai:  23Người trả lời: Ta là tiếng của người kêu trong đồng vắng rằng: Hãy ban đường của Chúa cho bằng, như đấng tiên tri Ê-sai đã nói. 

Như chúng ta đã biết Giăng là người đầy uy tín và có ảnh hưởng rộng lớn trong xã hội.  Từ ngày ông ra đời cách đặc biệt cho đến khi ông lớn lên và sống cuộc đời đạo hạnh, ông là nguồn hy vọng của nhiều người (Lu-ca 1:65-66).  Người ta thầm nghĩ rất có thể Giăng chính là Đấng Christ (Lu-ca 3:15).

Có nhiều người đến cùng Giăng Báp-tít.  Trong số đó có cả những người không ăn năn hối cải cách chân thành nên bị ông quở trách:         7Vậy, Giăng nói cùng đoàn dân đến để chịu mình làm phép báp-tem rằng: Hỡi dòng dõi rắn lục, ai đã dạy các ngươi tránh khỏi cơn thạnh nộ ngày sau?  8Thế thì, hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn; và đừng tự nói rằng: Áp-ra-ham là tổ phụ chúng ta; vì ta nói cùng các ngươi, Ðức Chúa Trời có thể khiến từ những đá nầy sanh ra con cái cho Áp-ra-ham được.  9Cái búa đã để kề gốc cây; hễ cây nào không sanh trái tốt thì sẽ bị đốn và chụm (Lu-ca 3:7-9).

Khi thấy lòng mình bị cáo trách, nhiều người thuộc đủ các thành phần khác nhau trong xã hội hỏi Giăng Báp-tít những câu hỏi thực tế về nếp sống đạo và họ được ông trả lời cách rõ ràng: 

10Chúng bèn hỏi Giăng rằng: Vậy thì chúng tôi phải làm gì? 11Người đáp rằng: Ai có hai áo, hãy lấy một cái cho người không có; và ai có đồ ăn cũng nên làm như vậy.  12Cũng có những người thâu thuế đến để chịu phép báp-têm; họ hỏi rằng: Thưa thầy, chúng tôi phải làm gì?  13Người nói rằng: Ðừng đòi chi ngoài số luật định.  14Quân lính cũng hỏi rằng: Còn chúng tôi phải làm gì? Người nói rằng: Ðừng hà hiếp, đừng phỉnh gạt ai hết, những hãy bằng lòng về lương hướng mình (Lu-ca 3:10-14).

Lu-ca 7:30 nói đến việc những người Pha-ri-si và những thầy dạy luật khước từ thánh ý của Chúa.  Có phải đây là những người đã không ăn năn hối cải cách chân thành và do đó đã không được Giăng Báp-tít làm báp têm?  Theo Lu-ca 7:30 thì những người này đã không chịu Giăng làm phép báp têm và đã chê bỏ ý định Đức Chúa Trời về mình.  Giăng Báp-tít không từ khước họ nhưng chính họ đã khước từ Chúa.

Tại sao những người này khước từ Chúa?  Về sau Chúa Giê-xu cho chúng ta biết rõ lý do trong Ma-thi-ơ 23: 

2Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si đều ngồi trên ngôi của Môi-se.  3Vậy, hãy làm và giữ theo mọi điều họ đã bảo các ngươi; nhưng đừng bắt chước việc làm của họ, vì họ nói mà không làm.  4Bọn ấy buộc những gánh nặng khó chịu, để trên vai người ta, còn mình thì không muốn động ngón tay vào.  5Họ làm việc gì cũng cố để cho người ta thấy, mang cái thẻ bài da cho rộng, xủ cái tua áo cho dài;  6ưa ngồi đầu trong đám tiệc, thích ngôi cao nhất trong nhà hội;  7muốn người ta chào mình giữa chợ, và ưng người ta gọi mình bằng thầy!

Theo lời tường thuật của Ma-thi-ơ trong Ma-thi-ơ 23, những thầy thông giáo và người Pha-ri-si kiêu ngạo, gian ác, ích kỷ, giả dối này bị Chúa quở trách nặng nề: 

13Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đóng nước thiên đàng trước mặt người ta; các ngươi không vào đó bao giờ, mà có ai muốn vào, thì lại ngăn trở.  14Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi làm bộ đọc lời cầu nguyện cho dài mà nuốt nhà đờn bà góa; vì cớ đó, các ngươi sẽ bị đoán phạt nặng hơn.  15Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đi khắp dưới nước trên bộ để khuyên một người vào đạo mình; và khi đã khuyên được rồi, thì các ngươi làm cho họ trở nên người địa ngục gấp hai các ngươi.  16Khốn cho các ngươi, là kẻ mù dẫn đường, các ngươi nói rằng: Nếu người nào chỉ đền thờ mà thề, thì không can chi; song chỉ vàng của đền thờ mà thề, thì phải mắc lời thề ấy.  17Hỡi kẻ dại và mù, vàng, và đền thờ làm cho vàng nên thánh, cái nào trọng hơn?  18Lại các ngươi nói rằng: Nếu người nào chỉ bàn thờ mà thề, thì không can chi; song chỉ của lễ trên bàn thờ mà thề, thì phải mắc lời thề ấy.  19Hỡi kẻ mù kia, của lễ, và bàn thờ làm cho của lễ nên thánh, cái nào trọng hơn?  20Vậy thì người nào chỉ bàn thờ mà thề, là chỉ bàn thờ và cả của lễ trên bàn thờ mà thề;  21người nào chỉ đền thờ mà thề, là chỉ đền thờ và Ðấng ngự nơi đền thờ mà thề  22còn ai chỉ trời mà thề, là chỉ ngôi của Ðức Chúa Trời và Ðấng ngự trên ngôi mà thề vậy.  23Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi nộp một phần mười bạc hà, hồi hương, và rau cần, mà bỏ điều hệ trọng hơn hết trong luật pháp, là sự công bình, thương xót và trung tín; đó là những điều các ngươi phải làm, mà cũng không nên bỏ sót những điều kia.  24Hỡi kẻ mù dẫn đường, các ngươi lọc con ruồi nhỏ mà nuốt con lạc đà!  25Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi rửa bề ngoài chén và mâm, nhưng ở trong thì đầy dẫy sự ăn cướp cùng sự quá độ.  26Hỡi người Pha-ri-si mù kia, trước hết phải lau bề trong chén và mâm, hầu cho bề ngoài cũng được sạch sẽ.  27Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi giống như mồ mả tô trắng bề ngoài cho đẹp, mà bề trong thì đầy xương người chết và mọi thứ dơ dáy.  28Các ngươi cũng vậy, bề ngoài ra dáng công bình, nhưng ở trong thì chan chứa sự giả hình và tội lỗi.  29Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi xây đắp mồ mả của đấng tiên tri, trau giồi mồ mả của người công bình,  30và nói rằng: Nếu chúng ta ở cùng một thời với tổ phụ, thì không hùa theo người mà làm đổ máu các đấng tiên tri vậy.  31Ấy đó, các ngươi tự làm chứng cho mình rằng thật là con cháu những người giết các đấng tiên tri.  32Vậy thì hãy làm cho đầy dẫy cái lường của tổ phụ các ngươi!  33Hỡi loài rắn, dữ dội rắn lục kia, thế nào mà tránh khỏi sự đoán phạt nơi địa ngục được?

Giăng Báp-tít phải đối diện với những người như vậy.  Nhiệm vụ của ông càng khó khăn hơn nhất là khi những người đó có thế lực, có vây cánh khắp nơi.  Ông phải chuẩn bị cho muôn dân nghênh đón Chúa.  Trong số đó có cả những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si như đã được mô tả.  Công việc Giăng Báp-tít làm là đi qua hết thảy các miền lân cận sông Giô-đanh, giảng dạy phép báp-têm về sự ăn năn để được tha tội, như lời đã chép trong sách đấng tiên tri Ê-sai rằng: Có tiếng kêu la trong đồng vắng: Hãy dọn đường Chúa, ban bằng các nẻo Ngài.  Công việc ông làm là lấp đầy các trũng, san bằng các gò, sửa đường quanh quẹo cho ngay thẳng, sửa đường gập ghềnh cho bằng phẳng  hầu cho mọi xác thịt sẽ thấy sự cứu của Ðức Chúa Trời.

Giăng Báp-tít thi hành nhiệm vụ Đức Chúa Trời trao phó cách tốt đẹp đến nỗi nhiều người phải hỏi:  Ông có phải là Đấng Christ chăng?  Ông đáp:  Không phải.  Họ lại hỏi:  Ông có phải là Ê-li chăng.  Ông trả lời: Không phải.  Họ lại hỏi tiếp:  Như vậy ông có phải là một Đấng tiên tri nào chăng?  Giăng khẳng định:  Ta là tiếng của người kêu trong đồng vắng rằng: Hãy ban đường của Chúa cho bằng, như đấng tiên tri Ê-sai đã nói. 

Tiên Tri Ma-la-chi có nói đến người mà dân chúng vẫn hàng trông đợi:

4Các ngươi khá nhớ lại luật pháp của đầy tớ ta là Môi-se, mà ta đã truyền cho nó tại Hô-rép, tức là những lề luật và mạng lịnh cho cả Y-sơ-ra-ên.  5Nầy, ta sẽ sai đấng tiên tri Ê-li đến cùng các ngươi trước ngày lớn và đáng sợ của Ðức Giê-hô-va chưa đến.  6Người sẽ làm cho lòng cha trở lại cùng con cái, lòng con cái trở lại cùng cha, kẻo ta đến lấy sự rủa sả mà đánh đất nầy. (Ma-la-chi 4:4-6)

Tiên tri Ê-sai cũng nói đến người sẽ làm công việc sửa sọan đường cho Chúa:

1Ðức Chúa Trời của các ngươi phán rằng: Hãy yên ủi, hãy yên ủi dân ta.  2Hãy nói cho thấu lòng Giê-ru-sa-lem, và rao rằng sự tranh chiến của nó đã trọn; tội lỗi nó đã được tha; nó đã chịu gấp hai từ tay Ðức Giê-hô-va vì các tội mình. 3Có tiếng kêu rằng: Hãy mở đường trong đồng vắng cho Ðức Giê-hô-va; hãy ban bằng đường cái trong đất hoang cho Ðức Chúa Trời chúng ta! (Ê-sai 40:1-3)

Khi thấy lời hứa của Chúa được ứng nghiệm, dân chúng kỳ vọng thật nhiều nơi Giăng Báp-tít.  Theo cách suy nghĩ của họ, ông phải là một nhân vật đặc biệt, một nhân vật quan trọng.  Nếu không phải là chính Đấng Christ, không  phải là Ê-li, thì phải là một nhà tiên tri, một bậc lãnh đạo có tầm vóc như Môi-se.  Câu trả lời của Giăng xác định công việc của ông, vị trí của ông trong chương trình của Đức Chúa Trời.  Giăng không có gì để nói về chính mình.  Mục tiêu chính của Giăng là nói về Chúa. 

 

Câu 24-28

24Những kẻ chịu sai đến cùng Giăng đều là người Pha-ra-si.  25Họ lại hỏi rằng: Nếu ông chẳng phải Ðấng Christ, chẳng phải Ê-li, chẳng phải đấng tiên tri, thì cớ sao ông làm phép báp têm?  26Giăng trả lời: Về phần ta, ta làm phép báp têm bằng nước; nhưng có một Ðấng ở giữa các ngươi mà các ngươi không biết.  27Ấy là Ðấng đến sau ta, ta chẳng đáng mở dây giày Ngài.  28Những việc đó đã xảy ra tại thành Bê-tha-ni, bên kia sông Giô-đanh, là nơi Giăng làm phép báp têm.

Nghe Giăng Báp-tít trả lời như vậy rồi những người đến hỏi ông vẫn chưa thỏa mãn.  Những người Pha-ri-si kia muốn biết nếu không phải là chính Đấng Christ, không phải là Ê-li, cũng chẳng phải là Đấng tiên tri thì tại sao ông lại làm phép báp têm.  Ông là ai mà lại nghiễm nhiên chứng thực kinh nghiệm ăn năn hối cải của người khác?  Họ nhận chỉ thị đến gặp Giăng Báp-tít để tra hỏi cho kỳ được lai lịch, gốc gác, phận sự của ông.  Họ không thể trở về Giê-ru-sa-lem với bản báo cáo trống không.  Thế lực của giới lãnh đạo Do Thái Giáo bị rúng động.  Những thầy thông giáo và người giòng Pha-ri-si dạy rằng là tuyển dân của Chúa, dân Do Thái chỉ cần vâng giữ luật pháp là đủ để bảo đảm cho sự cứu rỗi.  Trong khi đó, Giăng Báp-tít giảng dạy rằng hết thảy mọi người đều phải ăn năn, kể cả các hàng giáo phẩm lẫn giáo dân.  Vậy mà ngừoi ta lại nghe ông.  Tiếng nói của những thầy thông giáo và người giòng Pha-ri-si không mạnh mẽ, lôi cuốn bằng tiếng nói của Giăng Báp-tít.  Ảnh hưởng của họ trong cộng đồng càng lúc càng suy yếu trong khi ảnh hưởng của Giăng trong cộng đồng càng lúc càng gia tăng.

Theo 2 Các Vua 2:1-17,  Ê-li ngày xưa đã lên trời trong một cỗ xe lửa và không ai thấy được xác của ông.  Có một số người mong đợi Ê-li trở lại trong chính thân thể của mình ngày trước.  Xét về một phương diện, Giăng Báp-tít giống Ê-li về ân tứ, về thần quyền, về tầm quan trọng của chức vụ Chúa trao phó.  Về phương diện thể chất, thân thể của Giăng không phải là thân thể của Ê-li.

Ngày xưa Môi-se có nói rằng:  15Từ giữa anh em ngươi, Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ngươi sẽ lập lên một đấng tiên tri như ta; các ngươi khá nghe theo đấng ấy!  16Ðó là điều chính ngươi đã cầu Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ngươi, tại Hô-rếp, trong ngày nhóm hiệp, mà rằng: Cầu xin tôi chớ nghe tiếng Giê-hô-va Ðức Chúa Trời tôi nữa, và chớ thấy đám lửa hừng nầy nữa, e tôi chết chăng.  17Bấy giờ, Ðức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Chúng nó nói có lý;  18ta sẽ lập lên cho chúng một đấng tiên tri như ngươi, thuộc trong anh em chúng, ta sẽ lấy các lời ta để trong miệng người, thì người sẽ nói cho chúng mọi điều ta phán dặn ngươi.  19Bằng có ai không nghe theo lời ta mà đấng tiên tri nhân danh ta nói, thì ta sẽ hạch ai đó. (Phục Truyền 18:15-19)

Người được Môi-se nói đến trong đọan kinh văn trên đây không phải là Giăng Báp-tít.  Bởi vậy nên khi nghe người ta hỏi, Giăng trả lời ngay rằng ông không phải là một tiên tri giống như Môi-se.  Càng lúc câu trả lời của Giăng Báp-tít càng ngắn.  Câu trả lời dài của ông (Giăng 1:23) là lời trích dẫn từ Ê-sai 40:3. 

Giăng Báp-tít khẳng định địa vị cao trọng của Đức Chúa Giê-xu Christ.  Ngài đến sau Giăng nhưng Ngài trổi hơn ông vì Ngài vốn trước ông. Giăng chỉ là một người sanh ra trong vòng nhân thế nhưng Đấng Christ là Đấng hiện hữu từ cõi đời đời; Giăng là một người, Đấng Christ là Ngôi Lời; Giăng được Đức Chúa Trời sai đến, Đấng Christ là chính Đức Chúa Trời; Giăng đến để làm chứng về sự sáng,  Đấng Christ chính là sự sáng, Giăng đưa dẫn người ta đến niềm tin, Đấng Christ là đối tượng của niềm tin.

Ngài đang cư ngụ vói dân chúng mà người ta lại không biết hoặc biết nhưng không chấp nhận, không quí trọng.  Riêng đối với Giăng Báp-tít, Đấng đến sau ông trổi hơn ông bội phần.  Ông không xứng đáng để mở dây giày của Chúa.  Công việc mở giây giày dép là công việc của đầy tớ hoặc gia nhân.  Công việc rửa chân, một công việc thường đi kèm theo việc mở giày dép, cũng là công việc của đầy tớ hoặc gia nhân.  ngừoui ta làm công việc ấy cho chủ nhà hoặc khách quí.  Giăng tự xét mình không xứng đáng để làm tôi tớ Chúa.

Chúng ta được biết nơi Giăng rao giảng và đối đáp những lời chất vấn xảy ra ở nơi tên là Bê-tha-ni, phía bên kia sông Giô-đanh.  Đây không phải là Bê-tha-ni gần Giê-ru-sa-lem, nơi gia đình La-xa-rơ, Ma-thê và Ma-ri cư ngụ.  Giăng 10:39-40 thuật lại việc dân Do Thái muốn ném đá Chúa.  Bấy giờ nơi Chúa đến là phía bên kia Sông Giô-đanh, nơi Giăng Báp-tít làm phép báp-têm.

 

Câu 29-34

29Qua ngày sau, Giăng thấy Ðức Chúa Jêsus đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Ðức Chúa Trời, là Ðấng cất tội lỗi thế gian đi.  30Ấy về Ðấng đó mà ta đã nói: Có một người đến sau ta, trổi hơn ta, vì người vốn trước ta.  31Về phần ta, ta vốn chẳng biết Ngài; nhưng ta đã đến làm phép báp-têm bằng nước, để Ngài được tỏ ra cho dân Y-sơ-ra-ên.  32Giăng lại còn làm chứng nầy nữa: Ta đã thấy Thánh Linh từ trời giáng xuống như chim bò câu, đậu trên mình Ngài.  33Về phần ta, ta vốn không biết Ngài; nhưng Ðấng sai ta làm phép báp-têm bằng nước có phán cùng ta rằng: Ðấng mà ngươi sẽ thấy Thánh Linh ngự xuống đậu lên trên, ấy là Ðấng làm phép báp-têm bằng Ðức Thánh Linh.  34Ta đã thấy nên ta làm chứng rằng: Ấy chính Ngài là Con Ðức Chúa Trời.

Cả ba sách Ma-thi-ơ, Mác và Lu-ca đều thuật lại việc Giăng làm phép báp têm cho Chúa Giê-xu.  Có những chi tiết về việc này được tường thuật trong ba sách này nhưng không có trong sách Giăng:

13Khi ấy, Ðức Chúa Jêsus từ xứ Ga-li-lê đến cùng Giăng tại sông Giô-đanh, đặng chịu người làm phép báp-tem.  14Song Giăng từ chối mà rằng: Chính tôi cần phải chịu Ngài làm phép báp-têm, mà Ngài lại trở đến cùng tôi sao! Ðức Chúa Jêsus đáp rằng:  15Bây giờ cứ làm đi, vì chúng ta nên làm cho trọn mọi việc công bình như vậy. Giăng bèn vâng lời Ngài.  16Vừa khi chịu phép báp-têm rồi, Ðức Chúa Jêsus ra khỏi nước; bỗng chúc các từng trời mở ra, Ngài thấy Thánh Linh của Ðức Chúa Trời ngự xuống như chim bò câu, đậu trên Ngài. 17Tức thì có tiếng từ trên trời phán rằng: Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đàng (Ma-thi-ơ 3:13-17).

9 Vả, trong những ngày đó, Ðức Chúa Jêsus đến từ Na-xa-rét là thành xứ Ga-li-lê, và chịu Giăng làm phép báp-têm dưới sông Giô-đanh.  10Vừa khi lên khỏi nước, Ngài thấy các từng trời mở ra, và Ðức Thánh-Linh ngự xuống trên mình Ngài như chim bò câu.  11Lại có tiếng từ trên trời phán rằng: Ngươi là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường (Mác 1:9-11).

21Vả, khi hết thảy dân chúng đều chịu phép báp-têm, Ðức Chúa Jêsus cũng chịu phép báp-têm. Ngài đương cầu nguyện thì trời mở ra,  22Ðức Thánh Linh lấy hình chim bồ câu ngự xuống trên Ngài; lại có tiếng từ trên trời phán rằng: Ngươi là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường (Lu-ca 3:21-22).

Ma-thi-ơ mô tả sự khiêm nhường của Chúa.  Lẽ ra, Giăng là người cần được Chúa làm phép báp-têm cho mình.  Tuy nhiên, theo lời phán của Chúa Giê-xu, Ngài muốn Giăng làm báp-têm cho Ngài để "làm trọn mọi việc công bình" (Ma-thi-ơ 3:15).  Qua việc này, Chúa nhìn nhận Giăng Báp-tít và chức vụ của ông là thật, lời ông rao giảng là đúng.  Đối với Giăng, đây là một vinh dự, một đặc ân lớn lao.  Khi làm báp-têm cho Chúa, Giăng biết Ngài là Đấng Mê-si, Ngài là Con Yêu Dấu của Đức Chúa Trời, đẹp lòng Đức Chúa Trời mọi đàng.  Ngài là Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi của cả thế gian.  Từ khi thấy Đức Thánh Linh ngự xuống, đáp đậu trai vai Chúa như bồ câu, Giăng nhận được sự xác chứng tỏ tường về Đấng mà ông đã hướng đến để ngưỡng vọng và tôn thờ,  Đấng ông hằng trông đợi bấy lâu nay.

 

Câu 35-37

35Ngày mai, Giăng lại ở đó với hai môn đồ mình;  36nhìn Ðức Chúa Jêsus đi ngang qua, bèn nói rằng: Kìa, Chiên con của Ðức Chúa Trời!  37Hai môn đồ nghe lời đó, bèn đi theo Ðức Chúa Jêsus.

Giăng Báp-tít không có mong ước nào khác hơn là mang vinh hiển dâng lên Chúa.  Ông cố găng thúc dục mọi người sửa sọan tấm lòng, sửa sọan đời sống để nghênh đón Chúa.  Ông không muốn nói về mình.  Ông  chỉ muốn tôn sùng Chúa, đề cao Chúa mà thôi.  Ông không chỉ cho người ta thấy mình nhưng ông chỉ cho người ta thấy Chúa của mình.  Giăng không nói nhiều nhưng lời ông nói là lời hùng hồn mạnh mẽ, đầy uy quyền và chân thật.  Qua lời chứng chân thành của ông, người nghe có thể tin cậy Chúa và bước đi theo Chúa cách mau mắn dạn dĩ.  Trong số những người tin Chúa, theo Chúa có cả môn đồ của Giăng.

 

Kết Luận:

 

Chúng ta học được điều gì từ Giăng Báp-tít?

Thứ nhất, Giăng Báp-tít là gương mẫu phục vụ khiêm nhường.  Tâm tình phục vụ của ông giúp chúng ta thấy rõ điều Phao-lô mô tả trong Phi-líp 2:1-8:

1Vậy nếu trong Ðấng Christ có điều yên ủi nào, nếu vì lòng yêu thương có điều cứu giúp nào, nếu có sự thông công nơi Thánh Linh, nếu có lòng yêu mến và lòng thương xót,  2thì anh em hãy hiệp ý với nhau, đồng tình yêu thương, đồng tâm, đồng tư tưởng mà làm cho tôi vui mừng trọn vẹn.  3Chớ làm sự chi vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình.  4Mỗi người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa.  5Hãy có đồng một tâm tình như Ðấng Christ đã có, 6Ngài vốn có hình Ðức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Ðức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.

Thứ nhì, Giăng Báp-tít là gương mẫu chứng đạo kiên trì, trung tín.  Lời chứng của ông là lời chứng hướng về Đấng Christ.  Đó là lời chứng chân thật và đầy quyền năng.

16Vậy nên chúng ta chẳng ngã lòng, dầu người bề ngoài hư nát, nhưng người bề trong cứ đổi mới càng ngày càng hơn.  17Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng, vô biên,  18bởi chúng ta chẳng chăm sự thấy được; vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy (2 Cô-rinh-tô 4:16-18).

Thứ ba, Giăng Báp-tít là người dạn dĩ rao truyền chân lý Tin Lành.  Đối với Giăng, khiêm nhường không có nghĩa là rụt rè, nhút nhát.  Về sau, Phao-lô cũng có kinh nghiệm giống như ông như Phao-lô đã viết trong 1 Cô-rinh-tô 2:1-5:

1Hỡi Anh em, về phần tôi, khi tôi đến cùng anh em, chẳng dùng lời cao xa hay là khôn sáng mà rao giảng cho anh em biết chứng cớ của Ðức Chúa Trời.  2Vì tôi đã đoán định rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Ðức Chúa Jêsus Christ, và Ðức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh trên cây thập tự.  3Chính tôi đã ở giữa anh em, bộ yếu đuối, sợ hãi, run rẩy lắm.  4Lời nói và sự giảng của tôi chẳng phải bằng bài diễn thuyết khéo léo của sự khôn ngoan, nhưng tại sự tỏ ra Thánh Linh và quyền phép;  5hầu cho anh em chớ lập đức tin mình trên sự khôn ngoan loài người, bèn là trên quyền phép Ðức Chúa Trời.

Khi rao giảng về sự thành tín, sự nhân từ và ơn cứu rỗi của Chúa, Giăng Báp-tít, Phao-lô, và hết thảy những tôi tớ Chúa đều có thể rao giảng cách quả quyết, vững vàng vì biết rằng nền tảng của những điều mình rao giảng không đặt trên chính mình nhưng trên uy quyền của Chúa Chí Cao:

1Vậy nên, chúng tôi nhờ sự thương xót đã ban cho, mà được chức vụ nầy, thì chúng tôi chẳng ngã lòng;  2nhưng chúng tôi từ bỏ mọi điều hổ thẹn giấu kín. Chúng tôi chẳng theo sự dối gạt, và chẳng giả mạo lời Ðức Chúa Trời, nhưng trước mặt Ðức Chúa Trời chúng tôi tỏ bày lẽ thật, khiến lương tâm mọi người cho chúng tôi là đáng chuộng.  3Nếu Tin Lành của chúng tôi còn che khuất, là chỉ che khuất cho những kẻ hư mất,  4cho những kẻ chẳng tin mà chúa đời nầy đã làm mù lòng họ, hầu cho họ không trông thấy sự vinh hiển chói lói của Tin Lành Ðấng Christ, là ảnh tượng của Ðức Chúa Trời.  5Vả, chúng tôi chẳng rao giảng chính mình chúng tôi, nhưng rao giảng Ðức Chúa Jêsus Christ, tức là Chúa; và vì tình yêu mến Ðức Chúa Jêsus mà chúng tôi xưng mình là tôi tớ của anh em.  6Vì Ðức Chúa Trời, là Ðấng có phán: Sự sáng phải soi từ trong sự tối tăm! đã làm cho sự sáng Ngài chói lòa trong lòng chúng tôi, đặng sự thông biết về vinh hiển Ðức Chúa Trời soi sáng nơi mặt Ðức Chúa Jêsus Christ (2 Cô-rinh-tô 4:1-6).

Không những tôi tôi tớ Chúa cần phải dạn dĩ, quả quyết trong lời rao giảng mà còn phải kiên tâm trì chí dạy dỗ, khuyên lơn dù ở trong thuận cảnh hay nghịch cảnh, dù an ninh hay không an ninh, dù dễ dãi hay khó khăn:

1Ta ở trước mặt Ðức Chúa Trời và trước mặt Ðức Chúa Jêsus Christ là Ðấng sẽ đoán xét kẻ sống và kẻ chết, nhơn sự đến của Ngài và nước Ngài mà răn bảo con rằng:  2hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi.  3Vì sẽ có một thời kia, người ta không chịu nghe đạo lành; những vì họ ham nghe những lời êm tai, theo tư dục mà nhóm họp các giáo sư xung quanh mình,  4bịt tai không nghe lẽ thật, mà xây hướng về chuyện huyễn.  5Nhưng con, phải có tiết độ trong mọi sự, hãy chịu cực khổ, làm việc của người giảng Tin Lành, mọi phận sự về chức vụ con phải làm cho đầy đủ (2 Ti-mô-thê 4:1-5).

Thứ tư, Giăng Báp-tít là người tinh tế.  Ông không để cho những người mặc áo nhà tu làm mù thiên hạ.  Vai trò lãnh đạo và lớp vỏ đạo mạo của các thầy thông giáo và người Pha-ri-si không có nghĩa họ là những người công bình.  Giăng thấy rõ điều này nên ông thẳng thắn quở trách họ:

7Bởi Giăng thấy nhiều người dòng Pha-ri-si và Sa-đu-sê đến chịu phép báp-tem mình, thì bảo họ rằng: Hỡi dòng dõi rắn lục kia, ai đã dạy các ngươi tránh khỏi cơn giận ngày sau?  8Vậy, các ngươi hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn,  9 và đừng tự khoe rằng: Áp-ra-ham là tổ chúng ta; và ta nói cho các ngươi rằng Ðức Chúa Trời có thể khiến đá nầy sanh ra con cái cho Áp-ra-ham được.  10Bây giờ cái búa đã để kề rễ cây; vậy hễ cây nào không sanh trái tốt, thì sẽ phải đốn và chụm.  11Về phần ta, ta lấy nước mà làm phép báp-tem cho các ngươi ăn năn; song Ðấng đến sau ta có quyền phép hơn ta, ta không đáng xách giày Ngài. Ấy là Ðấng sẽ làm phép báp-tem cho các ngươi bằng Ðức Thánh Linh và bằng lửa.  12Tay Ngài cầm nia mà dê thật sạch sân lúa mình và Ngài sẽ chứa lúa vào kho, còn rơm rạ thì đốt trong lửa chẳng hề tắt  (Ma-thi-ơ 3:7-12) .

Thứ năm, Giăng Báp-tít là người tin kính vâng phục.  Ông tin cậy Chúa, tôn trọng Chúa, vâng theo thánh ý của Chúa.  Là người được biệt riêng ra cho Chúa để làm công việc Chúa trao phó, Giăng không dám coi thường bổn phận, trách nhiệm của mình.  Ông thành tâm, nhẫn nại thi hành sứ mạng Chúa đã ủy thác trọn cả đời mình.