Bài 5                                           Thứ Tư ngày 5 tháng 6 năm 2002

 

Phép Lạ Thứ Nhất: Biến Nước Thành Rượu 

(2:1-11)

 

1Cách ba ngày sau, có đám cưới tại thành Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, và mẹ Ðức Chúa Jêsus có tại đó.  2Ðức Chúa Jêsus cũng được mời đến dự đám với môn đồ Ngài. 3Vừa khi thiếu rượu, mẹ Ðức Chúa Jêsus nói với Ngài rằng: Người ta không có rượu nữa.  4Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi đờn bà kia, ta với ngươi có sự gì chăng? Giờ ta chưa đến.  5Mẹ Ngài nói với những kẻ hầu bàn rằng: Người biểu chi, hãy vâng theo cả.  6Vả, tại đó có sáu cái ché đá, định dùng về sự rửa sạch cho người Giu-đa, mỗi cái chứa hai ba lường nước.  7Ðức Chúa Jêsus biểu họ rằng: Hãy đổ nước đầy những ché nầy; thì họ đổ đầy tới miệng.  8Ngài bèn phán rằng: Bây giờ nước múc đi, đem cho kẻ coi tiệc. Họ bèn đem cho.  9Lúc kẻ coi tiệc nếm nước đã biến thành rượu (vả, người không biết rượu nầy đến bởi đâu, còn những kẻ hầu bàn có múc nước thì biết rõ), bèn gọi chàng rể, 10mà nói rằng: Mọi người đều đãi rượu ngon trước, sau khi người ta uống nhiều rồi, thì kế đến rượu vừa vừa. Còn ngươi, ngươi lại giữ rượu ngon đến bây giờ.  11Ấy là tại Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, mà Ðức Chúa Jêsus làm phép lạ thứ nhất, và tỏ bày sự vinh hiển của mình như vậy; môn đồ bèn tin Ngài.

Người xưa dùng câu nói Hai trái tim vàng trong bức lều tranh để diễn tả tấm chân tình trong hòan cảnh nghèo khó.  Kết hôn với nhau khi túng thiếu tiền bạc không phải là điều dễ làm.  Rất nhiều người trẻ kinh nghiệm điều này.  Trong đọan kinh văn chúng ta suy gẫm hôm nay có lẽ gia đình đang làm lễ thành hôn cũng là gia đình nghèo.  Nếu gia đình này là gia đình khá giả thì thức ăn thức uống đã không thiếu.  Chính vì nghèo hoặc cũng có thể vì số khách tham dự tiệc cưới nhiều hơn số dự trù nên gia đình đã không có đủ rượu để thiết đãi.  Gia đình nào lâm vào trường hợp này thường bối rối hổ thẹn.  Chúa Giê-xu cùng với các môn đồ và mẹ là Ma-ri có mặt trong tiệc cưới.  Rất có thể mẹ Chúa quen thân gia đình này nên ngay khi thấy thiếu rượu bà lên tiếng ngay:  Người ta không có rượu nữa.   Mẹ Chúa biết con mình không phải chỉ là một phàm nhân như bao nhiêu người khác.  Ngay khi còn là thiếu niên con bà đã chứng tỏ đức độ và tri thức hơn ngườI theo lời tường thuật của Bác Sĩ Lu-ca:

40Con trẻ lớn lên, và mạnh mẽ, được đầy dẫy sự khôn ngoan, và ơn Ðức Chúa Trời ngự trên Ngài.  41Và, hằng năm đến ngày lễ Vượt qua, cha mẹ Ðức Chúa Jêsus thường đến thành Giê-ru-sa-lem.  42Khi Ngài lên mười hai tuổi, theo lệ thường ngày lễ, cùng lên thành Giê-ru-sa-lem.  43Các ngày lễ qua rồi, cha mẹ trở về, con trẻ là Jêsus ở lại thành Giê-ru-sa-lem, mà cha mẹ không hay chi hết.  44Hai người tưởng rằng Ngài cũng đồng đi với bạn đi đường, đi trót một ngày, rồi mới tìm hỏi trong đám bà con quen biết;  45nhưng không thấy Ngài, bèn trở lại thành Giê-ru-sa-lem mà tìm.  46Khỏi ba ngày, gặp Ngài tại trong đền thờ đang ngồi giữa mấy thầy thông thái, vừa nghe vừa hỏi.  47Ai nấy nghe, đều lạ khen về sự khôn ngoan và lời đối đáp của Ngài.  48Khi cha mẹ thấy Ngài, thì lấy làm lạ, và mẹ hỏi rằng: Hỡi con, sao con làm cho hai ta thể nầy? Nầy, cha và mẹ đã khó nhọc lắm mà tìm con.  49Ngài thưa rằng: Cha mẹ kiếm tôi làm chi? Há chẳng biết tôi phải lo việc Cha tôi sao?  50Nhưng hai người không hiểu lời Ngài nói chi hết.  51Ðoạn, Ngài theo về thành Na-xa-rét và chịu lụy cha mẹ. Mẹ Ngài ghi các lời ấy vào lòng.  52Ðức Chúa Jêsus khôn ngoan càng thêm, thân hình càng lớn, càng được đẹp lòng Ðức Chúa Trời và người ta (Lu-ca 2:40-52).

Lời của Ma-ri không phải chỉ bày tỏ quan tâm của một người thông cảm nỗi khó khăn, lúng túng của người khác nhưng còn bộc lộ niềm kỳ vọng đặt nơi con mình.  Hãnh diện về con mình, kỳ vọng nơi con mình là lẽ tự nhiên của bất kỳ bà mẹ nào.  Rất có thể Giô-sép đã qua đời sớm vì kể từ thời niên thiếu của Chúa Giê-xu, Kinh Thánh không còn đề cập đến Giô-sép nữa.  Điều này có nghĩa là Chúa Giê-xu đã phải phụ giúp mẹ mình nhiều trong việc chăm sóc gia đình.  Điều này cũng có nghĩa là mẹ Chúa rất gần gũi với Chúa và biết khá rõ về con mình và sứ mạng Cha trên trời đã giao phó cho Ngài.  Trong niềm kỳ vọng lớn, bà nói:  Người ta không có rượu nữa.

Chúa Giê-xu đáp lời mẹ:  Hỡi đờn bà kia, ta với ngươi có sự gì chăng? Giờ ta chưa đến.  Lời Chúa Giê-xu dường như thiếu sự tôn kính.  Sự thật Chúa Giê-xu không hề bày tỏ sự thất lễ đối với mẹ mình.   Cũng với ý tương tự, câu nói của Chúa có thể được phiên dịch như sau:  Thưa mẹ, việc này có liên can gì dến mẹ con mình chăng.  Thì giờ con chưa đến (NAB - New American Bible) hoặc:  Thưa mẹ, tại sao mẹ lại muốn con cán đáng việc này.  Thì giờ con chưa đến (NIV - New International Version), hoặc:  Thưa mẹ, nỗi bận tâm của mẹ có liên can gì đến con?  Thì giờ con chưa đến (The Holman Christian Standard Bible).  Trong nguyên bản, khi Chúa Giê-xu gọi Ma-ri là gunai (bà) thay vì là mhter (mẹ); rồi ngay sau đó Chúa thưa tiếp: Ti emoi kai soi, oupw hkei h wra mou  (Điều này là gì đối với tôi và bà, thì giờ tôi chưa đến) rất có thể Chúa muốn tỏ cho mẹ Ngài hiểu Ngài sẽ phải bắt đầu tùng phục theo ý Cha thánh trên trời thay vì theo lời yêu cầu của mẹ dưới thế.

Có một vài lần trong Sách Tin Lành Giăng, Chúa Giê-xu nói về thì giờ của Ngài.  Trong đoạn 7, khi Lễ Lều Tạm của Dân Do Thái gần đến, các em Chúa thúc dục Ngài cùng các môn đồ lên thành Giê-ru-sa-lem để thi hành phép lạ và chứng tỏ quyền năng, thân thế của Ngài.  Sự thật, ngay chính các em Chúa vẫn chưa tin Chúa hẳn hoi qua lời thúc dục này:

1Kế đó, Ðức Chúa Jêsus đi khắp xứ Ga-li-lê. Ngài không ưng đi trong xứ Giu-đê, bởi dân Giu-đa vẫn tìm phương giết Ngài.  2Và, ngày lễ của dân Giu-đa, gọi là lễ Lều Tạm gần đến.  3Anh em Ngài nói rằng: Hãy đi khỏi đây, và qua xứ Giu-đê, để cho các môn đồ cũng được xem công việc thầy làm.  4Khi nào người ta muốn tỏ mình ra, thì không làm kín giấu việc gì. Vì thầy làm những sự đó, hãy tỏ mình cho thiên hạ.  5Bởi chưng chính các anh em Ngài không tin Ngài.

Chúa Giê-xu đáp lời những người em:

6Thì giờ ta chưa đến; còn về các ngươi, thì giờ được tiện luôn luôn. 7Thế gian chẳng ghét các ngươi được; nhưng ghét ta, vì ta làm chứng nầy về họ rằng công việc họ là ác.  8Các ngươi hãy lên dự lễ nầy, còn ta chưa lên dự lễ đó, vì thì giờ ta chưa trọn  (câu 6-8). 

Sau đó Chúa lên thành Giê-ra-sa-lem cách kín đáo để tránh sự chú ý của dân chúng:  

9Ngài nói xong, cứ ở lại xứ Ga-li-lê.  10Lúc anh em Ngài đã lên dự lễ rồi, thì Ngài cũng lên, nhưng đi cách kín giấu, không thố lộ.  11Vậy, các ngươi Giu-đa tìm Ngài trong ngày lễ, và nói rằng: Nào người ở đâu?  12Trong đám đông có tiếng xôn xao bàn về Ngài. Người thì nói: Ấy là một người lành; kẻ thì nói: Không phải; người phỉnh dỗ dân chúng!  13Song chẳng ai dám nói về Ngài tỏ tường, vì sợ dân Giu-đa (Giăng 7:9-13).

Cũng trong đọan kinh văn này, Giăng cho biết người ta tìm thế bắt Ngài nhưng không ai có thể làm điều ấy được vì thì giờ Ngài chưa đến:  Vậy, họ kiếm thế bắt Ngài; nhưng không ai tra tay trên Ngài, vì giờ Ngài chưa đến (câu 30).

Trong những phần khác nữa trong sách Giăng, Chúa Giê-xu nhắc lại tầm quan trọng trong thì giờ của Ngài - đúng ra là tầm quan trọng trong thì giờ của Cha Ngài:  Ðức Chúa Jêsus phán mọi lời đó tại nơi Kho, đương khi dạy dỗ trong đền thờ; và không ai tra tay trên Ngài, vì giờ Ngài chưa đến (Giăng 8:20, sau khi Chúa nói chuyện cùng người nữ phạm tội tà dâm và tha thứ cho bà ấy): 

Lúc thì giờ Chúa đã đến, Chúa phán trong Giăng 12:23 như sau:

1Sáu ngày trước lễ Vượt Qua, Ðức Chúa Jêsus đến thành Bê-tha-ni, nơi La-xa-rơ ở, là người Ngài đã khiến sống lại từ kẻ chết.  2Người ta đãi tiệc Ngài tại đó, và Ma-thê hầu hạ; La-xa-rơ là một người trong đám ngồi đồng bàn với Ngài.  3Bấy giờ, Ma-ri lấy một cân dầu cam tùng hương thật, quí giá, xức chơn Ðức Chúa Trời, và lấy tóc mình mà lau; cả nhà thơm nức mùi dầu đó.  4Nhưng Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, là một môn đồ về sau phản Ngài, nói rằng:  5Sao không bán dầu thơm đó lấy ba trăm đơ-ni-ê đặng bố thí cho kẻ nghèo?  6Người nói vậy, chẳng phải là cho kẻ nghèo đâu, song vì người vốn là tay trộm cướp, và giữ túi bạc, trộm lấy của người ta để ở trong.  7Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Hãy để mặc người, người đã để dành dầu thơm nầy cho ngày chôn xác ta.  8Vì các ngươi thường có kẻ nghèo ở với mình, còn ta, các ngươi không có ta luôn luôn.

9Một bọn người Giu-đa nghe Ðức Chúa Jêsus có tại đó, bèn đến, chẳng những vì Ngài thôi, lại cũng để xem La-xa-rơ, là người Ngài đã khiến từ kẻ chết sống lại.

10Các thầy tế lễ cả bèn định giết luôn La-xa-rơ nữa,  11vì có nhiều người Giu-đa nhơn cớ người mà chia rẽ họ và tin theo Ðức Chúa Jêsus.  12Qua ngày sau, có một đám dân đông đến đặng dự lễ, biết Ðức Chúa Jêsus lên thành Giê-ru-sa-lem,  13bèn lấy những lá kè ra đón Ngài, và reo lên rằng: Hô-sa-na! Chúc phước cho Ðấng nhơn danh Chúa mà đến, là Vua của Y-sơ-ra-ên!  14Ðức Chúa Jêsus gặp một con lừa con, bèn lên cỡi, y như lời chép rằng:  15Hỡi con gái thành Si-ôn, chớ sợ chi, nầy, Vua ngươi đến, cỡi trên lừa con của lừa cái.  16Môn đồ trước vốn không hiểu điều đó; nhưng đến khi Ðức Chúa Jêsus đã được vinh hiển, mới nhớ lại những sự đó đã chép về Ngài, và người ta đã làm thành cho Ngài.

17Ðoàn dân ở cùng Ngài, khi Ngài kêu La-xa-rơ ra khỏi mộ và khiến từ kẻ chết sống lại, đều làm chứng về Ngài.  18Ấy cũng tại điều đó mà đoàn dân đi đón Ngài, vì có nghe rằng Ngài đã làm phép lạ ấy.  19Nhơn đó, người Pha-ra-si nói với nhau rằng: Các ngươi thấy mình chẳng làm nổi chi hết; kìa, cả thiên hạ đều chạy theo người!

20Và, trong đám đã lên đặng thờ lạy trong kỳ lễ, có mấy người Gờ-réc,  21đến tìm Phi-líp, là người ở thành Bết-sai-đa, thuộc xứ Ga-li-lê, mà xin rằng: Thưa chúa chúng tôi muốn ra mắt Ðức Chúa Jêsus.  22Phi-líp đi nói với Anh-rê; rồi Anh-rê với Phi-líp đến thưa cùng Ðức Chúa Jêsus.  23Ðức Chúa Jêsus bèn đáp rằng: Giờ đã đến, khi Con người sẽ được vinh hiển.

Sau khi dạy dỗ những lời trên đây rồi Chúa Giê-xu lại phán tiếp:

24Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu hột giống lúa mì kia, chẳng chết sau khi gieo xuống đất, thì cứ ở một mình; nhưng nếu chết đi, thì kết quả được nhiều.  25Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất đi, ai ghét sự sống mình trong đời nầy thì sẽ giữ lại đến sự sống đời đời.  26Nếu ai hầu việc ta, thì phải theo ta, và ta ở đâu, thì kẻ hầu việc ta cũng sẽ ở đó; nếu ai hầu việc ta, thì Cha ta ắt tôn quí người.  27Hiện nay tâm thần ta bối rối; ta sẽ nói gì? Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ nầy! nhưng ấy cũng vì sự đó mà Con đến giờ nầy!

Ngay sau đó, trong Giăng 13:1 chúng ta đọc được những lời này:  Trước ngày lễ Vượt Qua, Ðức Chúa Jêsus biết giờ mình phải lìa thế gian đặng trở về cùng Ðức Chúa Cha đến rồi; Ngài đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế gian, thì cứ yêu cho đến cuối cùng.

Lần khác nữa, khi Chúa Giê-xu phán về thì giờ đã đến của Ngài là trong Giăng 16:32-33  Nầy, giờ đến, đã đến rồi, là khi các ngươi sẽ tản lạc, ai đi đường nấy, và để ta lại một mình; nhưng ta không ở một mình, vì Cha ở cùng ta.  Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình yên trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi!

Trong câu đầu tiên trong lời cầu nguyện trong tư cách Thấy Tế Lễ Cả, Chúa Giê-xu thưa cùng Cha trên trời: Thưa Cha, giờ đã đến; xin làm vinh hiển Con, hầu cho Con cũng làm vinh hiển Cha (Giăng 17:1b).

Những câu kinh văn trên đây giúp chúng ta hiểu thêm lời Chúa nói với mẹ mình.  Chúa muốn bà hiểu Ngài phải hành động theo thánh ý của Cha trên trời.  Khi chưa có đủ thì giờ, cơ hội để kêu gọi và huấn luyện các môn đồ, khi chưa đi cùng khắp các thành các làng để mang sứ điệp Tin Lành đến cho dân chúng qua lời giảng dạy, qua việc chữa lành, khi làm xong những việc căn bản, cần thiết trong chương trình cứu chuộc nhân lọai, Chúa chưa thể tỏ mình cách công khai, quả quyết.  Nếu những người chống nghịch bắt Chúa quá sớm vì khiếp sợ trước quyền năng và uy thế của Ngài, e rằng công tác Ngài làm khó có thể được thực hiện cách trọn vẹn.

Thật ra, lời Chúa gọi mẹ mình cũng không phải là cách gọi mới.  Cách xưng hô tương tự cũng từng đã được ghi chép trong Cựu Ước và thường được dùng để diễn tả một khỏang cách giữa hai người đang đối thọai (Các Quan Xét 11:12; 18:24; 2 Sa-mu-ên 16:10; 19:23; 2 Các Vua 3:13; 2 Sử Ký 35:21). 

Trong câu 5 mẹ Chúa nói với những người hầu bàn rằng:  Người biểu chi, hãy vâng theo cả.  Ma-ri đã nói cùng Chúa Giê-xu việc cần giải quyết.  Chúa Giê-xu có can thiệp hay không, hoặc giải quyết như thế nào là tùy Ngài.  Mẹ Chúa bảo các người hầu bàn tiệc nên làm theo lời Chúa Giê-xu.  Chúa có quyết định của chính Ngài, trong thì giờ của Ngài.

Trong nhà tổ chức tiệc cưới có sáu cái ché đá đựng nước dùng vào việc rửa sạch mặt mũi tay chân.  Mỗi cái ché đá ấy có dung tích chừng 100 lít.  Chúa Giê-xu truyền cho những người hầu bàn đổ đầy nước vào những ché đá ấy.  Sau đó Ngài lại bảo họ múc nước rửa ráy trong ché đá để bưng cho chủ bàn tiệc uống.  Thông thường nước dùng để uống khác với nước dùng để rửa.  Nước rửa không tinh khiết, không sạch sẽ bằng nước uống.  Vậy mà trong tiệc cưới, khi hết rượu Chúa lại truyền cho những người giúp việc dùng nước rửa bưng cho khách uống!  Lạ thay, nước không còn là nước nữa nhưng đã biến thành rượu, mà lại là rượu ngon hơn trước nữa.  Có phải mọi người đều biết việc này chăng?  Không.  Chỉ có một số ít người biết mà thôi.  Hầu hết mọi người đều nghĩ rằng chủ nhà giữ lại rượu ngon để mời sau, khác vói thói quen của những người khác, đãi rượu ngon trước và khi khách đã say thì đãi rượu kém phẩm chất.

 

Kết Luận:

Chúng ta học được điều gì từ Phép Lạ Thứ Nhất: Biến Nước Thành Rượu?

Thứ nhất, theo lời sứ đồ Giăng, đây là phép lạ thứ nhất Chúa làm tại Ca-na.  Phép lạ này có mục đích đáp ứng một nhu cầu không cấp bách giống như trong trường hợp chữa lành người mù, người bại, người câm, người điếc.  Điều này tỏ cho thấy Chúa quan tâm đến cả những nhu cầu thông thường của chúng ta.

Thứ nhì, dường như chỉ có mẹ Chúa và những người hầu bàn tiệc biết rõ việc đã xảy ra.  Những người khác không biết.  Đúng ra, có nhiều việc lạ lùng kỳ diệu mà chỉ có những người biết đặt niềm tin nơi Đấng Sáng Tạo, Đấng Cứu Chuộc mới thấy rõ mà thôi, chẳng hạn như việc cảm hóa một người cứng lòng hoặc biến hóa một người xấu xa.

Thứ ba, Giăng cho biết qua phép lạ thứ nhất này, Chúa bày tỏ sự vinh hiển của chính Ngài.  Thật ra, ngay từ Giăng 1:10-14 chúng ta đã thấy là 10Ngôi Lời ở thế gian, và thế gian đã làm nên bởi Ngài; nhưng thế gian chẳng từng nhìn biết Ngài.  11Ngài đã đến trong xứ mình, song dân mình chẳng hề nhận lấy.   12Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Ðức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài,  13là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Ðức Chúa Trời vậy. 14 Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha.  Sau phép lạ thứ nhất này, những người trong gia đình Chúa biết rõ Ngài hơn và tin Ngài cách mạnh mẽ hơn.  Rất có thể Chúa Giê-xu đã sống cách khiêm nhường đến độ ngay cả những người rất thân cũng không thấy rõ thân thế cao trọng của Ngài.  Về sau, Phao-lô giúp chúng ta hiểu nhiều hơn qua lời mô tả trong Phi-líp 2:5-8  5Hãy có đồng một tâm tình như Ðấng Christ đã có, 6Ngài vốn có hình Ðức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Ðức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.

Thứ tư, Kinh Thánh Tân Ước dùng nhiều từ khác nhau để nói về phép lạ.  Chữ thường được dùng trong các sách tin lành khác là chữ dunameiß, có ý diễn tả việc đầy quyền năng.  Sứ đồ Giăng dùng chữ terata semeia có ý diễn tả dấu kỳ, phép lạ.  Theo cách diễn tả của Giăng, những việc phi thường Chúa thực hiện đòi hỏi người chứng kiến phải có niềm tin mới có thể nhìn thấy hoặc thấu hiểu.  Ví dụ đơn giản của ý này là tuy cũng nhìn thấy mây như là dấu hiệu của cơn mưa sắp đến nhưng có người biết, có người không biết.  Cũng vậy, trong sinh họat thường ngày, có dấu hiệu tỏ cho biết Chúa có can thiệp, có ban phước nhưng có người biết, có người không biết.

Thứ năm,ơn phước Chúa ban cho thường dư dật và cần phải được xử dụng cách thận trọng, cách có ích cho bản thân, gia đình và cho người khác.  Sáu cái ché đá trước đó là nước, về sau trở thành rượu ngon.  Sáu trăm lít rượu ngon không phải là một số lượng nhỏ.  Một gia đình nghèo có được nhiều như vậy chẳng khác nào có được một số vốn khá.  Bàn về rượu, Kinh Thánh có những lời dạy dỗ sau đây: 

Ø     Châm Ngôn 20:1  Rượu khiến người ta nhạo báng, đồ uống say làm cho hỗn láo; Phàm ai dùng nó quá độ, chẳng phải là khôn ngoan.

Ø     Ê-sai 5:11  Khốn thay cho kẻ dậy sớm đặng tìm kiếm rượu, chầy đến ban đêm, phát nóng vì rượu!

Ø     Ê-sai 5:22-23 Khốn thay cho kẻ mạnh uống rượu, có sức lực đặng pha các thức uống hay say;  vì hối lộ mà xưng kẻ có tội là công bình, và cướp lấy sự công bình của người nghĩa!

Ø     Ê-sai 28:1  Khốn thay cho mão triều thiên kiêu ngạo của những bợm rượu Ép-ra-im, khốn thay cho hoa chóng tàn làm đồ trang sức đẹp nhứt dân ấy, đóng tại nơi trũng màu mỡ của những người say rượu?

Ø     Ê-sai 28:7-8  Song những kẻ ấy cũng choáng váng vì rượu, xiêu tó vì các thứ rượu mạnh. Thầy tế lễ và đấng tiên tri đều choáng váng vì rượu mạnh, bị rượu nuốt đi, nhơn các thứ rượu mạnh mà xoàng ba; xem sự hiện thấy thì cắt nghĩa sai, xử kiện thì vấp ngã; mửa ra ô uế đầy bàn tiệc, chẳng có chỗ nào sạch!

Ø     Êsai 56:9-12 9Hỡi loài thú đồng, loài thú rừng, hết thảy hãy đến mà cắn-nuốt.  10Những kẻ canh giữ của Y-sơ-ra-ên đều là đui mù, không biết chi hết. Chúng nó thảy đều là chó câm, chẳng biết sủa, đều chiêm bao, nằm sóng sượt, và ham ngủ;  11lại là chó mê ăn, không biết no. Ấy là những kẻ chăn chiên chẳng khôn sáng; mọi người theo đường riêng mình, mỗi người tìm tư lợi mình, người nào cũng vậy.  12Nó nói rằng: Hãy đến, ta sẽ lấy rượu, chúng ta say vì rượu mạnh; ngày mai sẽ cũng như ngày nay, trọng thể quá bội

Ø     Ê-phê-sô 5:18 Ðừng say rượu, vì rượu xui cho luông tuồng; nhưng phải đầy dẫy Ðức Thánh Linh.

Có phải phép lạ Chúa làm mâu thuẫn với những lời dạy dỗ trên đây về rượu không?  Không hề mâu thuẫn.  Những điều được nói đến trong Châm Ngôn, Ê-sai, Ê-phê-sô có ý nói về sự say sưa, luông tuồng, quá độ.  Rượu nho ngày xưa từ nước nho lên men là lọai rượu rất nhẹ.  Rất có thể lọai rượu ấy có nồng độ nhẹ tựa như nước dâu lên men sau thời gian phơi nắng lâu ngày ở Đà-lạt.  LoạI rượu này nhẹ hơn cả bia nhẹ trong thị trường.  Qua phương pháp chế biến chưng cất, nồng độ rượu mới trở nên mạnh hơn và có tác dụng tai hại khi dùng quá độ.  Lu-ca 7:33-34 cho biết Chúa Giê-xu đã ăn uống cách tự nhiên chứ không như Giăng Báp-tít:  Vả, Giăng Báp-tít đã đến, không ăn bánh, không uống rượu; thì các ngươi nói rằng: Người mắc quỉ dữ.  Con người đến, ăn và uống, thì các ngươi nói rằng: Ấy đó là người ham ăn mê uống, bạn với người thâu thuế và kẻ có tội

Nguyên tắc con cái Chúa nên vâng giữ vẫn là trong mọi sự hoặc ăn, hoặc uống hoặc bất kỳ điều gì khác chúng ta nên vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời mà làm.  Hễ có điều gì có thể khiến người khác có cớ để chê trách hoặc đàm tiếu thì không nên làm vẫn hơn.  Theo quan niệm của Phao-lô mọi sự đều có phép làm nhưng chẳng phải mọi sự đều có ích; mọi sự đều có phép làm nhưng chẳng phải mọi sự đều gầy dựng.  Không phải ai cũng giống như Ti-mô-thê có hệ thống tiêu hóa yếu. Không phải ai cũng có chất béo quá nhiều trong máu nên phải chữa trị bằng rượu.  Ăn ít hơn, nhất là ăn ít chất béo thì vẫn tốt hơn.  Nói chung, chúng ta nên ăn uống chừng mực, điều độ.  Cái gì vừa có thể tác hại vừa khiến ta dễ lệ thuộc vào nó, lại phải tốn tiền thì tránh được vẫn tốt hơn.