Trang Đầu | Mục Lục | << Chương 28 | Chương 30 >> | Hướng Dẫn

THÁNH KINH

Ða-ni-ên

 

Người Hê-bơ-rơ làm chánh khách và tiên tri tại Ba-by-lôn.

 

Từ lúc còn thiếu niên, Ða-ni-ên đã bị đem qua Ba-by-lôn, và sống tại đó suốt cả thời kỳ lưu đày; nhiều lúc ông giữ địa vị rất cao trong đế quốc Ba-by-lôn và đế quốc Ba-tư.

 

Thành Ba-by-lôn

Ba-by-lôn, nơi Ða-ni-ên thi hành chức vụ, là thành phố kỳ quan của thế giới thời xưa. Vị trí của Ba-by-lôn ở nơi loài người phát tích, gần khu vực của vườn Ê-đen, và được kiến thiết chung quanh tháp Ba-bên. Nó là thủ đô đầu tiên của đế quốc; là nơi ở của các vua Ba-by-lôn, A-si-ri, Ba-tư và của cả A-lịch-sơn đại đế nữa; là một đô thị danh tiếng suốt cả thời kỳ trước đạo Ðấng Christ. Ba-by-lôn lên tới tuyệt điểm hùng cường và vinh quang đương thời Ða-ni-ên, bởi tay Nê-bu-cát-nết-sa, là bạn của Ða-ni-ên. Suốt 40 năm trị vì, Nê-bu-cát-nết-sa không ngừng xây cất và tô điểm các cung điện và đền miễu tại Ba-by-lôn.

Diện tích thành Ba-by-lôn.-- Các sử gia thời xưa nói rằng châu vi vách thành nầy là 60 dặm, mỗi bề 15 dặm, cao gần 100 thước tây, dày hơn 25 thước, và sâu xuống đất gần 12 thước, hầu cho quân thù không đào ở dưới được. Vách thành xây bằng gạch chừng 1000 phân vuông, và dày từ 7 đến 10 phân; suốt chung quanh, có khoảng trống 1/4 dặm giữa thành và vách thành; vách thành được che chở bằng những đường mương (kinh đào) sâu, rộng, đổ đầy nước. Trên vách thành có 250 tháp canh, những phòng cho lính gác, và 100 cổng thành bằng đồng. Thành có sông Ơ-phơ-rát chảy qua, chia làm hai phần đều nhau. Suốt dọc hai bờ sông, có vách gạch phòng vệ, với 25 cổng nối liền các đường phố và đò ngang. Có một chiếc cầu xây trên trụ đá, dài nửa dặm, rộng gần 10 thước tây, có cầu rút, ban đêm cất đi. Dưới sông có một đường hầm, rộng chừng 5 thước tây và cao chừng 4 thước. Những cuộc đào bới trong mấy năm gần đây đã chứng minh phần lớn ký văn dường như thần thoại của các sử gia thời xưa.

Ðền đồ sộ thờ Marduk (Bel) tiếp giáp tháp Ba-by-lôn (Ba-bên?), và là đền thờ có danh tiếng hơn hết suốt cả thung lũng Ơ-phơ-rát. Trong đó có tượng thần Bel bằng vàng và một cái bàn bằng vàng, cả hai cân nặng không dưới 50.000 cân Anh (chừng 22.650 kí-lô). Trên nóc cũng có tượng thần Bel và thần Ishtar bằng vàng, 2 con sư tử bằng vàng, một cái bàn bằng vàng dài chừng 13 thước tây và rộng chừng 5 thước tây, một cái hình người bằng vàng đặc, cao gần 6 thước tây. Quả thật, Ba-by-lôn là kinh thành có rất nhiều vàng. Thành nầy rất sùng đạo: Nó có 53 ngôi đền và 180 bàn thờ thần Ishtar.

Có lẽ "tượng bằng vàng" đã được dựng lên tại đồng bằng ở giữa tháp Ba-by-lôn và cung điện của Nê-bu-cát-nết-sa.

Cung điện của Nê-bu-cát-nết-sa mà Ða-ni-ên thường ra vào, là một trong những công trình kiến trúc đẹp đẽ nhứt từng có trên mặt đất. Năm 1899-1912, ông Koldeway khám phá được di tích rộng lớn của cung điện nầy. Vách phía Nam của điện vua ngự triều dày hơn 6 thước tây. Phía Bắc của cung điện có 3 bức tường phòng vệ. Ngay phía Bắc 3 bức tường nầy lại có những bức tường dày hơn 16 thước tây. Xa hơn chút nữa, lại có những bức tường đồ sộ. Và chừng một dặm nữa là vách lũy phía trong của thành, gồm hai bức tường chạy song song, xây bằng gạch, mỗi bức dày hơn 6 thước rưỡi, cách nhau hơn 13 thước tây, khoảng giữa đổ đầy gạch vụn; tổng cộng bề dày là 26 thước và phía ngoài có đường mương (con kinh) vừa sâu, vừa rộng. Xa hơn nữa là vách lũy phía ngoài, cũng xây cất theo cách đó. Trong những ngày tranh chiến thời xưa, thành Ba-by-lôn quả là không sao chiếm được.

Vườn treo của Ba-by-lôn là một trong 7 kỳ quan của thế giới thời xưa, do Nê-bu-cát-nết-sa xây dựng cho hoàng hậu, người Mê-đi, con gái kiều diễm của Cyaxeres (tiếng Pháp là: Cyaxare), đã giúp cha của ông chiếm thành Ni-ni-ve. Vườn nầy ở trên nhiều hàng khung vòm, hàng nọ chồng lên hàng kia, và mỗi hàng đỡ một cái sân mặt phẳng đúc đặc. Mỗi sân chiếm chừng 36 thước vuông. Sân và nóc có hoa, cây nhỏ, cây lớn bao phủ. Trên nóc có hồ chứa nước tưới, do máy bơm thủy áp từ dưới sông đưa lên đó. Bên dưới, trong những khung vòm, có nhiều căn phòng hoa lệ, là nơi tiêu khiển của cung điện. Vườn Treo xây cất đang khi Ða-ni-ên cai quản các bác sĩ Ba-by-lôn. Ông Koldeway phát giác được các khung vòm ở góc Ðông-bắc của cung điện, và ông cho đó là Vườn Treo.

Ðường rước kiệu, là con đường lớn và thánh của nhà vua, bắt đầu ở phía Bắc, lần lần lên cao, chạy vào khu cung điện ở góc Ðông-bắc, qua cổng Ishtar, lên trung tâm của thành, và lần lần xuống thấp tới góc Ðông-nam của tháp Ba-by-lôn, tại đó nó xây thẳng ra phía Tây, tới cầu bắc trên sông cái. Ở hai bên có những bức tường phòng thủ kiên cố, dày hơn 6 thước rưỡi, tô điểm bằng những hình sư tử chạm nổi, có nhiều màu chói lọi và bóng láng. Ðường lát bằng đá phiến 30 tấc vuông. Gần lối vào cung điện, các phiến đá vẫn còn nguyên chỗ cũ, y như Ða-ni-ên bước chơn trên đó.

*  *  *

Thành Ba-by-lôn 2

Dự ngôn sự hủy phá.-- "Ba-by-lôn, là sự vinh hiển các nước, sự hoa mỹ của lòng kiêu ngạo người Canh-đê, sẽ giống như Sô-đôm và Gô-mô-rơ mà Ðức Chúa Trời đã lật đổ. Nó sẽ chẳng hề có người ở nữa, trải đời nọ sang đời kia không ai ở đó... Những thú rừng nơi sa mạc sẽ cùng chó rừng làm ổ tại đó... Nhà cửa đầy những chim cú... Sài lang sủa trong cung điện, chó rừng tru trong đền đài vui sướng... Chúng nó sẽ ngủ một giấc đời đời và không tỉnh thức nữa (Ê-sai 13:17-22; Giê-rê-mi 51:37-43, 57).

Suốt thời kỳ đế quốc Ba-tư, Ba-by-lôn vẫn còn là một đô thị quan trọng. A-lịch-sơn đại đế muốn khôi phục vinh quang của nó, nhưng kế hoạch nầy không thành vì ông đã sớm băng hà. Sau ông, nó đã suy vi. Ðương thời Ðấng Christ, nó mất ngôi bá chủ chánh trị và thương mại; nhằm thế kỷ thứ nhứt S.C.; phần lớn nó đã thành đống hoang tàn. Gạch của nó dùng để kiến thiết thành phố Bagdad và sửa chữa các kinh đào. Trải qua nhiều thế kỷ, nó chỉ là một đám gò nỗng hoang vu, một nơi ở của thú vật chuyên sống trong sa mạc. Lời tiên tri đã ứng nghiệm lạ lùng; Ba-by-lôn vẫn chẳng có người ở, trừ ra một làng ở góc Tây-nam.

Di tích.-- Các gò nỗng ngày nay là di tích của những lâu đài đồ sộ đã chiếm khu trung tâm của Ba-by-lôn. Phần nhiều ở phía Ðông của sông cái, và chiếm một khu dài 3 dặm rưỡi, rộng 3 dặm. Ba gò nỗng chính mà ta nhận thấy trên bản đồ là: Babil ở phía Bắc, Kasr ở giữa, và Amran ở phía Nam. Babil là pháo lũy chống giữ lối vào thành ở phía Bắc; lối vào nầy cách BabilKasr chừng một dặm rưỡi. Kasr chừng nửa dặm vuông, cao chừng 23 thước tây, và gồm di tích cung điện của Nê-bu-cát-nết-sa. Amran cách Kasr nửa dặm về phía Nam, cũng rộng và cao như vậy, chứa di tích của miễu thờ thần Marduk (Bel). Trên đồng bằng ở góc phía Bắc của gò nỗng Amran có di tích tháp Ba-by-lôn đồ sộ mà người ta thường cho là tháp Ba-bên. Những gò nỗng thấp ở giữa KasrAmran, hơi hướng về phía Ðông, mang tên Merkes, vốn là khu thương mại và cư trú của thành Ba-by-lôn.

Bản đồ số 43 -- Di tích thành Ba-by-lôn

Nhìn vào đống hoang tàn, ta khó nhận thấy rằng đây là vị trí của Ba-by-lôn vĩ đại thuở xưa, là thành hoa lệ, hoang phí và tội ác quá mức tưởng tượng, vô song trong lịch sử thế giới, mà nay chỉ là một cảnh tượng hoàn toàn hoang vu và tàn diệt.

Các cuộc đào bới do ông Rich bắt đầu năm 1811 S.C., rồi cứ tiếp tục bởi Layard (1850), Oppert (1854) và Rassam (1878-1889). Nhưng công việc hoàn hảo nhứt đã do một phái đoàn Ðức, dưới quyền điều khiển của Robert Koldeway (1899-1912).

 

Ðế quốc Ba-by-lôn

Ðương thời Ða-ni-ên, Ba-by-lôn chẳng những là đô thị bậc nhứt của thế giới trước kỷ nguyên Ðấng Christ, song còn là thủ phủ của đế quốc hùng mạnh nhứt chưa từng có tới ngày đó. Ðế quốc nầy tồn tại được 70 năm. Ða-ni-ên ở đó từ lúc nó dấy lên cho tới lúc nó suy vong.

Ða-ni-ên đã sống dưới đời trị vì của các vua sau đây: Nabopolassar (625-604 T.C.); Nê-bu-cát-nết-sa (604-561 T.C.); Ê-vinh-mê-rô-đác (561-560 T.C. -- xem II Các vua 25:27); Neriglissar (559-556 T.C.); Labash-marduk (556 T.C.); Nabonidas (555-436 T.C.); con trai ông nầy là Bên-xát-sa, đồng trị với ông trong những năm cuối cùng của đời ông trị vì.

Như vậy, Ða-ni-ên sống tại Ba-by-lôn từ năm thứ nhứt của Nê-bu-cát-nết-sa, trải qua đời trị vì của 5 vua kế tiếp, trải qua lúc đế quốc Ba-by-lôn sụp đổ, đến đế quốc Ba-tư, trải qua đời trị vì của Ða-ri-út, người Mê-đi, mãi tới năm thứ ba của Si-ru, người Ba-tư (10:1). Tổng cộng là 72 năm, từ 606 T.C. tới 534 T.C., tức là từ năm thứ nhứt dân Do-thái bị lưu đày tới năm thứ hai sau khi họ từ chốn lưu đày hồi hương. Ông là người làm chứng cho Ðức Chúa Trời trong triều đình của đế quốc đã cai trị thế giới.

 

Nê-bu-cát-nết-sa

Ða-ni-ên là bạn hữu và cố vấn của Nê-bu-cát-nết-sa. Nê-bu-cát-nết-sa là bậc thiên tài và là người thật đã tạo lập đế quốc Ba-by-lôn. Ông trị vì 45 năm trong số 70 năm của đế quốc nầy.

Nabopolassar, cha của Nê-bu-cát-nết-sa, làm phó vương Ba-by-lôn và đã bẻ gãy ách thống trị của người A-si-ri (625 T.C.). Ông thực hiện nền độc lập của Ba-by-lôn, và cai trị thành nầy từ 625 đến 604 T.C..

Năm 609 T.C., Nê-bu-cát-nết-sa được cử làm thống tướng các đạo quân của cha mình. Ông xâm lăng các nước ở phương Tây, đoạt quyền kiểm soát xứ Pa-lét-tin nơi tay người Ai-cập (606 T.C.), và bắt một số người Do-thái về Ba-by-lôn làm phu tù, trong số đó có Ða-ni-ên.

Cùng năm đó (606 T.C.), ông lên ngôi đồng trị với cha mình; và năm 604 T.C., ông trị vì một mình. Ông tự tỏ ra là một vua hùng mạnh nhứt của mọi thời đại.

Năm sau (605 T.C.), ông phá tan thế lực của Ai-cập tại trận Cạt-kê-mít lừng danh trong lịch sử.  Năm 597 S.C., ông đè bẹp một cuộc nổi loạn mới tại xứ Pa-lét-tin, bắt vua Giê-hô-gia-kin và nhiều phu tù khác về Ba-by-lôn, trong số ấy có Ê-xê-chi-ên.

Năm 586 T.C., ông thiêu hủy thành Giê-ru-sa-lem, bắt thêm nhiều phu tù. Rồi suốt 13 năm, quân đội của ông vây hãm thành Ty-rơ (585-573 T.C.).

Năm 582 T.C., ông xâm lăng, cướp phá các xứ Mô-áp, Am-môn, Ê-đôm và Li-ban. Năm 581 T.C., ông lại bắt thêm phu tù Do-thái. Ông xâm lăng, cướp phá Ai-cập năm 572 T.C., và 568 T.C.. Ông băng hà năm 561 T.C..

Ða-ni-ên có ảnh hưởng mạnh mẽ trên ông; ba lần ông nhìn nhận rằng Ðức Chúa Trời của Ða-ni-ên là Chân Thần (2:47; 3:29; 4:34).

 

Bí Chú Khảo Cổ:  Viên đá ngũ sắc của Nê-bu-cát-nết-sa

Trong quyển Thánh Kinh từ điển của Schaff có lời chép rằng: "Tại Bảo-tàng-viện của kinh thành Bá-linh, có một viên đá ngũ sắc nền đen, chạm hình Nê-bu-cát-nết-sa do lịnh ông truyền, và có ghi câu nầy: Ðể tôn vinh Mê-rô-đác, Chúa của mình, Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đang lúc sanh tiền, đã truyền lịnh làm vật nầy." Ta há chẳng thích thú vì thấy hình của ông vua hùng mạnh trong lịch sử Kinh Thánh thời xưa, sao?

 

Sách Ða-ni-ên

Chính sách nầy tỏ ra Ða-ni-ên là tác giả của nó (7:1, 28; 8:2; 9:2; 10:1, 2; 12:4, 5). Chính Ðấng Christ đã thừa nhận như vậy (Ma-thi-ơ 24:15). Người Do-thái và các tín đồ trong Hội Thánh đầu tiên đều đã nhìn nhận như vậy. Porphyre, một nhà vô tín ở thế kỷ thứ 3 S.C., đưa ra lý thuyết rằng sách Ða-ni-ên là sách giả mạo soạn trong thời kỳ phái Macchabées khởi nghĩa (168-164 T.C.). Tuy nhiên, cái quan điểm cổ truyền rằng sách nầy là một tài liệu lịch sử có từ lúc Ða-ni-ên sanh tiền, đã được toàn thể các học giả tin theo Ðấng Christ và các học giả Do-thái chấp nhận, cho tới khi phái phê bình kim thời dấy lên. Ngày nay, nhơn danh "học giới kim thời," các nhà phê bình làm sống lại lý thuyết của Porphyre, nêu ra như một thực sự hiển nhiên rằng sách nầy do một tác giả vô danh biên trứ, -- tác giả nầy sống 400 năm sau đời Ða-ni-ên, mạo nhận tên Ða-ni-ên, và trao tác phẩm giả mạo của mình cho người đương thời mà bảo đó thật là tác phẩm của một vị anh hùng đã chết từ lâu. Tuy nhiên, các nhà phê bình nhấn mạnh rằng sự trạng nầy không thủ tiêu giá trị tôn giáo của sách. Ðó là một quan điểm kỳ lạ về luận lý, phải không? nếu sách không phải do Ða-ni-ên trứ tác như nó tự nhận đó, thì chúng ta làm thế nào mà nghĩ được rằng Ðức Chúa Trời đã dự phần trong sự lừa dối đó? Vì nếu tác giả đội danh các vị anh hùng đã sống lâu lắm về trước mà trình bày ý tưởng riêng của mình thì đó chưa phải là sự lương thiện thông thường nữa kia. Hơn nữa, các nhà phê bình kim thời cố gắng "giải thích rằng việc xảy ra trước chỉ là phản chiếu việc xảy ra sau, thành thử chính việc xảy ra sau không sao giải thích được," và gây thêm nhiều khó khăn, chớ chẳng giải quyết chi cả. Chúng tôi ngờ rằng then chốt thật của sự toan làm mất giá trị của sách Ða-ni-ên chính là trí khôn kiêu hãnh, không chịu nhìn nhận các phép lạ tuyệt vời và các lời tiên tri kỳ diệu ghi chép trong sách ấy.

Sách chép bằng tiếng Araméen, hoặc Canh-đê, từ 2:4 đến 7:28, là tiếng thương mại và ngoại giao đương thời ấy. Còn thì chép bằng tiếng Hê-bơ-rơ. Ðó là điều ta có thể tiên liệu trong một quyển sách viết cho người Do-thái đang sống giữa người Ba-by-lôn, trong có bản sao các công văn của chánh phủ Ba-by-lôn bằng nguyên văn Ba-by-lôn. Chắc E-xơ-ra đã đem sách nầy về Giê-ru-sa-lem.

 

Ðoạn 1 -- Con người Ða-ni-ên

Ða-ni-ên ở trong đoàn phu tù đầu tiên bị bắt từ Giê-ru-sa-lem qua Ba-by-lôn (606 T.C.). Ông thuộc về hoàng tộc hoặc quí tộc (câu 3). Sử gia Josèphe nói rằng Ða-ni-ên và ba bạn của ông là bà con với vua Sê-đê-kia. Do đó, họ được phép ra vào cung điện Ba-by-lôn dễ dàng hơn. Họ là những thanh niên đẹp đẽ, thông minh, xuất sắc, đã được Ðức Chúa Trời săn sóc đặc biệt và huấn luyện để làm chứng cho Danh Ngài tại triều đình ngoại đạo khi ấy đang cai trị thế giới. "Ðồ ngon vua ăn" (câu 8) mà họ không chịu ăn, chắc đã dâng làm tế lễ cho các hình tượng Ba-by-lôn rồi. Việc Ða-ni-ên dấy lên địa vị tiếng tăm khắp thế giới một cách kỳ lạ đã được ghi ở sách Ê-xê-chi-ên 14:14, 20 và 28:3, là sách chép 15 năm sau, trong lúc Ða-ni-ên còn là một thanh niên. Ông là một người phi thường thay! Ông tuyệt đối không tẻ tách khỏi lòng tin đạo kiên quyết, nhưng lại rất trung thành với ông vua thờ lạy hình tượng đến nỗi được giao cho cai quản công việc của đế quốc Ba-by-lôn.

 

Ðoạn 2 -- Pho tượng trong chiêm bao

Việc nầy xảy ra năm thứ hai đời vua Nê-bu-cát-nết-sa trị vì một mình. Ða-ni-ên vẫn còn là một thanh niên, và mới ở Ba-by-lôn có 3 năm.

Theo như người ta thường hiểu, thì 4 đế quốc cầm quyền bá chủ thế giới dự ngôn ở đây thì chính là các đế quốc Ba-by-lôn, Ba-tư, Hy-lạp và La-mã. Từ thời Ða-ni-ên cho đến khi Ðấng Christ xuất hiện, thế giới do bốn đế quốc nầy cai trị, đúng như Ða-ni-ên đã dự ngôn. Ðương thời đế quốc La-mã, Ðấng Christ xuất hiện và lập một Nước: Mới đầu như hột cải, Nước Ngài trải qua nhiều cuộc thăng trầm, và ngày nay tự chứng tỏ rằng sẽ trở nên một Nước đời đời, gồm cả thế giới và sẽ được vinh quang đầy trọn khi Chúa tái lâm.

Các nhà phê bình cho rằng sách Ða-ni-ên được trứ tác đương thời khởi nghĩa của phái Macchabée; vậy, muốn giải thích rằng sách Ða-ni-ên liên quan đến những biến cố quá khứ, chớ chẳng phải là dự ngôn về tương lai, họ thấy cần đặt cả 4 đế quốc vào niên hiệu trước khi biên trứ sách Ða-ni-ên nầy. Vậy, họ chia đế quốc Ba-tư làm hai đế quốc: Mê-đi và Ba-tư, để đặt đế quốc Hy-lạp vào hàng thứ tư. Nhưng thật ra không có đế quốc Mê-đi và đế quốc Ba-tư sau khi đế quốc Ba-by-lôn sụp đổ. Muốn đặt ra tình trạng ấy, thì chỉ là cố gắng làm sai lạc các thực sự lịch sử để chứng minh một lý thuyết. Người Mê-đi và người Ba-tư là một đế quốc ở dưới quyền cai trị của các vua Ba-tư. Ða-ri-út, người Mê-đi, chỉ là một phó vương cai trị ít lâu và ở dưới quyền của Si-ru, người Ba-tư, cho đến khi Si-ru tới nơi.

Hơn nữa, trong thời kỳ phái Macchabée khởi nghĩa, không xảy ra biến cố nào khả dĩ tương xứng với "Hòn Ðá đục ra từ núi" (câu 45), hoặc khả dĩ gọi là khởi đầu của Nước Ðức Chúa Trời bất cứ theo phương diện nào.

Hơn nữa, không thể có cách nào "nắn" các con số để khiến cho 70 tuần lễ ở đoạn 9 được đầy trọn nhằm thời phái Macchabée khởi nghĩa.

Lời tiên tri về 4 đế quốc đây lại được nói rộng thêm ở đoạn 7 luận về 4 con thú, ở đoạn 8 luận về chiên đực và dê đực, ở đoạn 9 luận về 70 tuần lễ, và ở đoạn 11 luận về các cuộc giao tranh giữa vua phương Bắc và vua phương Nam.

 

Ðoạn 3 -- Lò lửa hực

Theo bản Septante, biến cố nầy xảy ra năm thứ 18 đời trị vì của Nê-bu-cát-nết-sa, sau khi Ða-ni-ên và ba bạn ông đã ở Ba-by-lôn chừng 20 năm. Ðó chính là năm mà Nê-bu-cát-nết-sa thiêu hủy thành Giê-ru-sa-lem (năm 586 T.C.).

Mấy năm trước, Ðức Chúa Trời đã tỏ cho Ða-ni-ên chiêm bao của Nê-bu-cát-nết-sa và cách giải thích chiêm bao thể nào, thì cũng một thể ấy, bây giờ Ngài đặt trong lòng ba người nầy sự kiên quyết trung thành với Ðức Chúa Trời. Rồi Ngài cùng đi vào lò lửa với họ, chẳng những để tôn trọng đức tin họ, song cũng để bày tỏ trước mắt quần thần của đế quốc rất rộng lớn đang tụ hội kia rằng Ðức Chúa Trời của Giê-ru-sa-lem có quyền phép trên các thần của Ba-by-lôn mà chúng vẫn khoe khoang. Như vậy, lần thứ hai, Ðức Chúa Trời đã tỏ mình trong triều đình của một đế quốc hùng mạnh, và cũng lần thứ hai, vua Nê-bu-cát-nết-sa hùng mạnh sấp mình trước mặt Ðức Giê-hô-va và tuyên bố Ngài là Chân Thần cho tới biên giới cùng tột của đế quốc mình.

Có một ngụy kinh gọi là "Bài ca của ba đứa con thánh," nội dung là lời ba người nầy ca khen Ðức Chúa Trời vì được Ngài giải cứu. Bài ca nầy được thêm vào sách Ða-ni-ên, sau đoạn 3:23. Nó thể hiện một truyền thuyết lan rộng trong dân chúng, nhưng không bao giờ được coi là một phần của Kinh Thánh (Cựu Ước) Hê-bơ-rơ.

Năm 1854, ông Oppert đào bới di tích ở Ba-by-lôn, đã thấy cái bệ của một pho tượng khổng lồ tại một chỗ gọi là Duair; có lẽ đó là di tích tượng vàng khổng lồ của Nê-bu-cát-nết-sa (câu 1).

 

Ðoạn 4 -- Nê-bu-cát-nết-sa hóa điên và được lành mạnh

Ðây là truyện tích một chiêm bao khác của Nê-bu-cát-nết-sa mà Ða-ni-ên giải thích, và mọi sự đã xảy ra rất đúng. Nê-bu-cát-nết-sa bị một bịnh tinh thần, tưởng mình là con thú và đã hành động như một con thú. Ông đi lang thang giữa những con thú trong vườn của khu hoàng cung. Lần thứ ba Nê-bu-cát-nết-sa sấp mình trước mặt Ðức Giê-hô-va, và tuyên bố quyền phép của Ngài với cả thế giới. "Bảy kỳ" (câu 32), -- chữ nầy nghĩa là "mùa." Có người tưởng là 7 năm, có kẻ cho là 7 tháng. Ông Rendal Harris nói rằng: "Ở xứ Ba-by-lôn, người ta chỉ kể mùa hạ và mùa đông." Như vậy là 3 năm rưỡi.

Trong một bi văn của Nê-bu-cát-nết-sa ghi các công cuộc kiến thiết và công nghiệp của ông, Huân tước Henry Rawlinson có đọc những lời nầy: "Trong 4 năm, nơi ở của nước ta chẳng làm cho lòng ta vui thích. Ta chẳng dùng quyền lực mình mà xây cất một dinh thự trọng đại nào trên các lãnh thổ của ta. Ta không xây dựng cung điện nào ở Ba-by-lôn cho mình và để danh mình được tôn vinh. Trong sự thờ lạy Mê-rô-đác, là thần của ta, ta chẳng hát ngợi khen thần ấy; ta cũng chẳng dâng tế vật trên bàn thờ thần ấy, và không dọn sạch các kinh đào." Có người nghĩ rằng đây là nói đến bịnh điên của ông một cách xa xôi, mặc dầu các vua thời xưa vẫn ra lịnh không được ghi những việc như vậy trên bi văn của mình.

Ông Lenormant quả quyết người Canh-đê có truyền thoại rằng Nê-bu-cát-nết-sa leo lên mái hoàng cung và kêu la: "Hỡi người Ba-by-lôn, một người Ba-tư sẽ đến bắt các ngươi làm tôi mọi. Một người Mê-đi sẽ hợp tác với hắn." Nếu thật vậy, thì dường như Nê-bu-cát-nết-sa đã lãnh hội được một vài ý tưởng của Ða-ni-ên.

 

Ðoạn 5 -- Bữa tiệc của Bên-xát-xa

Việc nầy xảy ra chính đêm đế quốc Ba-by-lôn sụp đổ. Ða-ni-ên đã ở Ba-by-lôn 70 năm, và lúc nầy ông cao tuổi lắm.

 

Bí Chú Khảo Cổ:  Bên-xát-xa

Cho tới năm 1853, người ta không thấy các ký văn Ba-by-lôn có chép đến Bên-xát- xa. Người ta chỉ biết rằng Nabonidas (555-538 T.C.) là vua Ba-by-lôn sau chót. Ðối với các nhà phê bình, đó là một bằng cớ tỏ ra rằng sách Ða-ni-ên không đúng với lịch sử. Song năm 1853, người ta tìm thấy một ký văn trên phiến đá góc của đền thờ do Nabonidas xây tại U-rơ cho một thần. Ký văn rằng: "Nguyện tôi, là Nabonidas, vua Ba-by-lôn, không phạm tội nghịch cùng thần! Và nguyện sự tôn kính thần ở trong lòng Bên-xát-xa, con trai đầu lòng yêu quí của tôi!"

Do những bi văn khác, người ta được biết rằng phần nhiều Nabonidas ẩn dật ở phía ngoài kinh thành Ba-by-lôn; còn Bên-xát-xa chỉ huy quân đội, điều khiển chánh phủ, đồng trị với cha mình, và chính Bên-xát-xa đã đầu hàng Si-ru. Ðiều nầy giải thích tại sao Ða-ni-ên, có thể "dự chức thứ ba trong việc chánh trị nhà nước" (câu 16, 29). "Nê-bu-cát-nết-sa, cha vua" (câu 11), không phải là cha thật của Bên-xát-xa, nhưng là bậc tiên đế đối với ông.

 

Bí Chú Khảo Cổ:  Bàn tay viết trên tường (câu 25, 28)

Người ta đã phát giác được chính nền móng của bức tường nầy.

Các ông Xénophon, HérodoteBérose đã thuật lại sự suy vong của Ba-by-lôn như sau đây: "Si-ru đào một con kinh mới cho sông Ơ-phơ-rát chảy vào đó, rồi nhờ hai tên lính đào ngũ dẫn lối, ông do lòng sông khô cạn mà tiến vào trong thành, đang khi người Ba-by-lôn say sưa yến tiệc mừng các thần của họ."

Ký văn trên các tấm bảng Ba-by-lôn mà người ta tìm thấy mấy năm gần đây, có ghi rằng đạo quân Ba-tư dưới quyền chỉ huy của Gobryas, đã chiếm Ba-by-lôn mà không phải đánh một trận nào, và Gobryas đã giết con trai của vua (tức là Bên-xát-xa); còn Si-ru thì sau mới vào thành.

Ða-ri-út, người Mê-đi, đã nhận lấy nước (câu 31) và trị vì tại Ba-by-lôn cho tới khi Si-ru lên cầm quyền (6:28; 9:1). Dưới đời trị vì của Ða-ri-út, Ða-ni-ên đã bị quăng vào hang sư tử. Nhưng các ký văn không chép chi về Ða-ri-út. Người ta cho rằng hoặc Ða-ri-út là Gobryas, người mà các tấm bảng Ba-by-lôn ghi là đã chiếm thành ấy, hay là -- theo lời sử gia Josèphe -- Cyaxares, người Mê-đi, cha vợ của Si-ru. Có một tên Ba-by-lôn và một tên bổn quốc là điều thông thường; tỉ như Ða-ni-ên và ba bạn ông đã được đặt tên mới (1:7). Nhưng dầu Ða-ri-út là cha vợ của Si-ru hoặc là một tướng của Si-ru, ông cũng đã cầm đầu đạo quân chiếm Ba-by-lôn trong khi Si-ru bận đánh trận ở phía Bắc và phía Tây. Cho tới ngày Si-ru đến nơi, Ða-ri-út đã làm vua trị vì tại Ba-by-lôn, có lẽ chừng 2 năm (538-536 T.C.).

Ðã có lời dự ngôn rằng người Mê-đi sẽ chiến thắng Ba-by-lôn (Ê-sai 13:17; 21:2; Giê-rê-mi 51:11, 28). Cho tới lúc Si-ru đến nơi, thì là "người Mê-đi và người Phe-rơ-sơ" (Ba-tư -- 5:28; 6:8). Sau đó thì là "Phe-rơ-sơ (Ba-tư) và Mê-đi" (Ê-xơ-tê 1:14, 18, 19).

 

Ðoạn 6 -- Ða-ni-ên trong hang sư tử

Ða-ni-ên là một đại thần của đế quốc Ba-by-lôn suốt 70 năm, là cả thời gian đế quốc ấy tồn tại. Dầu lúc nầy ông rất già, có lẽ đã trên 90 tuổi, nhưng Ða-ri-út, người chiến thắng Ba-by-lôn, lập tức đặt ông cầm đầu chánh quyền Ba-by-lôn. Ấy có lẽ vì Ða-ni-ên vừa mới nói tiên tri rằng người Mê-đi thắng trận (5:28). Ðó là một cách khen tặng sự khôn ngoan, thanh liêm và vô tư của ông. Nhưng ông vẫn kiên quyết tận tụy với Ðức Chúa Trời mình (câu 10). Ðức tin lớn lao thay! Can đảm lớn lao thay! Thật là một ông già dũng cảm biết bao! Chúng tôi có nghe một vị Truyền đạo nói rằng sở dĩ bầy sư tử không cắn xé, ăn nuốt Ða-ni-ên là vì ông cứng quá!

Ngụy kinh "Bel và Con Rồng" là phần thêm vào truyện tích Ða-ni-ên trong hang sư tử.

 

Các phép lạ trong sách nầy

Trong sách nầy có kể lại nhiều chuyện lạ lùng. Với những ai thấy là khó tin những chuyện nầy, chúng ta xin nói rằng: Chúng ta hãy nhớ rằng trải qua 1000 năm, Ðức Chúa Trời đã trưởng dưởng dân tộc Hê-bơ-rơ vì một mục đích, là bởi dân tộc ấy, giữa thế giới gồm toàn những nước thờ lạy hình tượng, Ngài lập vững cái Ý Tưởng rằng Giê-hô-va Là Ðức Chúa Trời. Lúc nầy dân tộc của Ðức Giê-hô-va đã bị tiêu diệt bởi một dân tộc thờ lạy hình tượng. Trước mắt cả thế giới, đó là bằng cớ tỏ rõ rằng các thần của Ba-by-lôn có quyền phép hơn Ðức Chúa Trời của dân Do-thái. Ðó là một lúc khẩn trương trong cuộc tranh đấu của Ðức Giê-hô-va nghịch cùng sự thờ lạy hình tượng. Nếu có lúc nào mà Ðức Giê-hô-va cần làm một việc gì để Tỏ Ra Ai Là Ðức Chúa Trời, thì chính là lúc dân Do-thái bị lưu đày tại Ba-by-lôn. Nếu không có điều chi phi thường xảy ra, hẳn cũng lạ thật! Nếu những phép lạ vĩ đại nầy không thực hiện, thì trong lịch sử Kinh Thánh chắc phải thiếu một cái gì. Dầu khó tin những phép lạ nầy, nhưng nếu không có nó, thì ta càng khó tin các phần khác của truyện tích trong sách Ða-ni-ên.  Từ lúc đầu, hết thế hệ nầy tới thế hệ khác, người Do-thái luôn luôn sa vào vòng thờ lạy hình tượng; song rốt lại, lúc nầy, đang khi bị lưu đày tại Ba-by-lôn, ít ra họ cũng tin quyết rằng Ðức Chúa Trời của họ là Chân Thần; và từ đó trở đi, họ không hề sa vào vòng thờ lạy hình tượng nữa. Chắc những phép lạ nầy đã góp phần thuyết phục họ. Những phép lạ nầy có một ảnh hưởng mạnh mẽ trên cả Nê-bu-cát-nết-sa và Ða-ri-út (3:29; 6:26).

 

Ðoạn 7 -- Bốn con thú

Ðây là tiếp tục lời tiên tri ở đoạn 2, đã nói ra 60 năm trước: Ta thấy hai trạng thái của một hệ thống lịch sử vĩ đại, là 4 đế quốc bá chủ thế giới, rồi tới Nước Ðức Chúa Trời. Ðoạn 2 hình dung bằng một pho tượng đầu bằng vàng, ngực và cánh tay bằng bạc, bụng và vế bằng đồng, và chơn bằng sắt, cả thảy bị nghiền nát bởi Hòn Ðá đục ra từ núi. Trong đoạn nầy, 4 đế quốc bá chủ thế giới ấy lại được hình dung bằng con sư tử, con gấu, con beo và một con thú kinh khiếp. Ðoạn nầy thêm nhiều lời giải thích tỉ mỉ, nhứt là về đế quốc thứ tư.

Người ta thường cho 4 đế quốc bá chủ thế giới nầy là Ba-by-lôn, Ba-tư, Hy-lạp, và La-mã (xem ở dưới đoạn 2), gồm khoảng thì giờ từ thời Ða-ni-ên cho tới Ðấng Christ. Những con thú nầy dường như làm nền tảng cho sự hiện thấy về con thú có 7 đầu và 10 sừng ở sách Khải Huyền, đoạn 13.

Người ta cho "mười cái sừng" của con thú thứ tư (câu 24) là 10 nước mà đế quốc La-mã đã bị phân tán ra. Còn "cái sừng nhỏ khác" (câu 8, 20, 24, 25) dấy lên giữa 10 cái sừng, thì người ta thường hay cho là thủ lãnh của một Giáo hội kia, tức là sự liên hiệp của con beo và con chiên con ở sách Khải Huyền, đoạn 13. Người ta cho rằng "ba vua" bị đánh đổ (câu 8, 24) chỉ về xứ của người Lombards, thành Ravenne và thành La-mã đã được trao cho các thủ lãnh kia lúc họ bắt đầu có nước ở trần gian (năm 754 S.C.).

Do lời giải thích nầy cùng với lời giải thích lịch sử về con thú bảy đầu và mười sừng của sách Khải Huyền, chúng ta được thấy sơ lược cả lịch sử thế giới: Ai-cập, A-si-ri, Ba-by-lôn, Ba-tư, Hy-lạp, La-mã, La-mã của thủ lãnh Giáo hội kia. Theo sau La-mã có "mười nước;" chúng tôi tưởng đó là con số chẵn tỏ ra quyền cai trị thế giới không giao cho một quốc gia nào, nhưng cho một số quốc gia. Ðó như là mười nước tiếp tục đế quốc La-mã cho tới kỳ sau rốt. Từ đó tới nay, không hề có một đế quốc nào làm bá chủ thế giới. Nã-phá-luân đã thử làm như vậy, nhưng thất bại. Vua nước Ðức (Kaiser) Hitler cũng thử làm như vậy, nhưng cũng thất bại.

"Cái sừng nhỏ khác" (câu 8, 20, 24, 25) rất đúng với thủ lãnh của Giáo hội kia. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng nó cũng chỉ về Antichrist.

 

Các khoảng thì giờ trong sách Ða-ni-ên

"Một kỳ, những kỳ, và nửa kỳ" ở 7:25, chỉ về thời gian "cái sừng nhỏ khác" của con thú thứ tư tồn tại.

"Một kỳ, những kỳ và nửa kỳ" ở 12:7 chỉ về thời gian từ Ða-ni-ên cho tới "kỳ sau rốt."

"Một thì, các thì và nửa thì" được dùng ở Khải Huyền 12:14, tương đương với 42 tháng và 1260 ngày (Khải Huyền 11:2, 3; 12:6, 14; 13:5). Các câu nầy chỉ về thời gian Thành Thánh bị giày xéo, hai người làm chứng nói tiên tri, người đờn bà ở trong đồng vắng, và con thú sống lại ngồi trên ngôi.

"Hai ngàn ba trăm buổi chiều và buổi mai" (8:14) chỉ về thời gian Nơi Thánh bị cái sừng nhỏ của con thú thứ ba giày xéo dưới chơn. Có thể là 2300 ngày, hoặc 2300 nửa ngày, tức là 1150 ngày, tức là gần 3 năm rưỡi, hoặc gần 7 năm.

"Một ngàn hai trăm chín mươi ngày" (12:11) là thời gian tồn tại của "sự gớm ghiếc làm cho hoang vu," hoặc thời gian từ khi nó bắt đầu cho tới kỳ sau rốt. Ấy là hơn khoảng 1260 ngày một chút.

"Một ngàn ba trăm ba mươi lăm ngày" (12:12), dường như là thêm 40 ngày nữa, vào khoảng 1290 ngày, sau đó có phước lành chung kết.

"Bảy mươi tuần lễ" (9:24) là thời gian từ khi có chiếu chỉ xây lại thành Giê-ru-sa-lem cho tới khi Ðấng Mê-si xuất hiện. Nó gồm "bảy tuần lễ" của "kỳ khó khăn" (9:25) và "một tuần lễ" trong đó Ðấng chịu xức dầu bị trừ đi (9:26, 27).

Người ta thường cho rằng chữ "kỳ" (thì) ở câu "một kỳ, những kỳ, và nửa kỳ" có nghĩa là một năm; như vậy, câu nầy nghĩa là 3 năm rưỡi, tức là 42 tháng, hoặc (tính mỗi tháng có 30 ngày) 1260 ngày.

Người thì cho đó thật có nghĩa đen là 3 năm rưỡi. Người khác, theo lối giải thích một ngày là một năm (Dân số ký 14:34; Ê-xê-chi-ên 4:6), lại cho đó là một khoảng 1260 năm. Kẻ khác nửa lại không cho là con số chỉ về khoảng thời gian hay thì giờ, mà là con số tượng trưng: 7 tượng trưng cho sự hoàn toàn, 3 rưỡi, tức là một nửa 7, chỉ về sự bất toàn, nghĩa là đời trị vì của tội ác chỉ tạm thời thôi.

Những khoảng thì giờ nầy có liên quan mật thiết với câu "sự gớm ghiếc làm cho hoang vu," là công tác do cái sừng nhỏ của con thú thứ ba (8:13; 11:31). "Sự gớm ghiếc" nầy cũng có sau khi Ðấng Mê-si bị trừ đi (9:27), và là khởi điểm của 1290 ngày (12:11). Ðức Chúa Jêsus trưng dẫn câu "sự tàn phá làm cho hoang vu" nầy, và cho là nó chỉ về thành Giê-ru-sa-lem gần bị đạo quân La-mã phá hủy (Ma-thi-ơ 24:15). Ngài trưng dẫn câu ấy trong một bài giảng có những lời hỗn hợp bao hàm kỳ tận thế.

Có nói đến "kỳ khó khăn" dành cho 7 tuần lễ lúc đầu và 1 tuần lễ lúc cuối của khoảng 70 tuần lễ (9:25, 27). Có dự ngôn về "tai nạn, đến nỗi... chẳng có như vậy bao giờ" (12:1), dành cho "kỳ cuối cùng" (hoặc kỳ sau rốt -- 12:4, 9, 13). Ðức Chúa Jêsus đã trưng dẫn câu nầy để chỉ về sự hủy phá thành Giê-ru-sa-lem luôn với lúc tận thế (Ma-thi-ơ 24:21).

Antiochus đã xúc phạm Ðền thờ trong 3 năm rưỡi (168-165 T.C.). Quân đội La-mã tấn công thành Giê-ru-sa-lem trong 3 năm rưỡi (67-70 S.C.). Thủ lãnh của Giáo hội kia quản trị thế giới gần 1260 năm, từ thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 18 S.C.. Hồi giáo cai trị xứ Pa-lét-tin năm 637 S.C., và mãi vào khoảng 1260 năm sau (1917 S.C.), quyền cai trị ấy mới chuyển qua Cơ-đốc-giáo.

Chúng tôi nghĩ rằng không một lời giải thích nào có thể thấu triệt ý nghĩa các điểm thời gian nầy của Ða-ni-ên. Có thể hiểu các điểm ấy theo nghĩa đen, nghĩa bóng và nghĩa tượng trưng. Có thể các điểm ấy được ứng nghiệm trước nhứt trong một biến cố lịch sử, rồi được ứng nghiệm trong một biến cố khác, và cuối cùng được ứng nghiệm ở kỳ sau rốt. Sự xúc phạm Ðền thờ bởi Antiochus, sự hủy phá thành Giê-ru-sa-lem bởi Titus, và sự tiếm quyền trong Hội Thánh do thủ lãnh kia, có thể đều là tiền khu và tượng trưng cho cơn Ðại nạn trong thời Antichrist. Nếu không cảm thấy chắc chắn mình đã hiểu biết, thì chúng ta chớ quá thất vọng; chính Ða-ni-ên cũng phát đau ốm vì không hiểu rõ (8:27).

 

Ðoạn 8 -- Chiên dực và dê đực

Ðoạn nầy chứa thêm lời dự ngôn về đế quốc bá chủ thế giới thứ hai và thứ ba đã nói đến ở đoạn 2 và đoạn 7, tức là đế quốc Ba-tư và đế quốc Hy-lạp.

Ðế quốc Ba-tư được hình dung ở đoạn 7:5 là một con gấu cắn nuốt, và ở đây được hình dung là con chiên đực có hai cái sừng (câu 3-4), vì nó là cuộc liên minh của người Mê-đi và người Ba-tư.

Ðế quốc Hy-lạp được hình dung ở đoạn 7:6 là con beo có bốn đầu, và ở đây được hình dung là con dê đực hùng hổ và mau lẹ từ phía Bắc xông tới, có một sừng lớn, và khi sừng nầy bị gãy, thì có bốn sừng khác thay thế.

Sừng lớn là A-lịch-sơn đại đế, đã phá tan đế quốc Ba-tư năm 331 T.C.. Lời tiên tri nầy viết năm 539 T.C., tức là 200 năm trước khi được ứng nghiệm. Ðó là dự ngôn rất lạ lùng về sự xung đột và kết quả sự xung đột giữa hai đế quốc bá chủ thế giới mà lúc dự ngôn, chưa một đế quốc nào đã dấy lên.

"Bốn cái sừng" (câu 8, 21-22) và bốn cái đầu (7:6) là bốn nước mà đế quốc của A- lịch-sơn đại đế đã phân tán ra (xem thêm ở đoạn 11).

"Cái sừng nhỏ" (câu 9) từ bốn cái sừng kia mọc lên, thì người ta đồng ý cho là chỉ về Antiochus Epiphane (175-164 T.C.), thuộc nhánh Sy-ri của đế quốc Hy-lạp, người đã cương quyết cố gắng trừ diệt đạo Do-thái (xem ở dưới 11:21-35). Tuy nhiên, mấy chữ "kỳ sau rốt" được lặp lại (câu 17, 19) có thể có nghĩa là cùng với Antiochus sắp xuất hiện, ở bối cảnh xa xăm của sự hiện thấy còn có hình ảnh bất tường của một tay hủy diệt khủng khiếp hơn bội phần (câu 26), -- nó sẽ làm đen tối những ngày sau chót của lịch sử, và Antiochus chỉ là một tiền khu tượng trưng cho nó mà thôi.

 

Ðoạn 9 -- 70 tuần lễ

Cuộc lưu đày đã kéo dài 70 năm và gần chấm dứt. Ðây thiên sứ bảo Ða-ni-ên rằng cho tới lúc Ðấng Mê-si xuất hiện, còn có "70 tuần lễ" nữa (câu 24).

Người ta thường hiểu rằng "70 tuần lễ" nghĩa là 70 lần 7 năm, hoặc 7 lần 70 năm, tức là 490 năm. Dường như thiên sứ nói rằng: "Cuộc lưu đày đã kéo dài 70 năm; khoảng thì giờ giữa cuộc lưu đày và sự xuất hiện của Ðấng Mê-si sẽ dài gấp bảy lần chừng đó."

Con số 7 và những vòng 7 bảy năm thường có ý nghĩa tượng trưng; song các biến cố thực sự trong lời tiên tri nầy thật rất lạ lùng như sau đây:

Niên hiệu phải bắt từ đó mà tính 70 tuần lễ là năm ban hành chiếu chỉ xây lại thành Giê-ru-sa-lem (câu 25). Các vua Ba-tư đã giáng ba chiếu chỉ nhằm mục đích ấy, vào các năm 536 T.C.; 457 T.C.; và 444 T.C., (xem dưới sách E-xơ-ra). Quan trọng nhứt là chiếu chỉ ban hành năm 457 T.C..

70 tuần lễ được chia ra làm 7 tuần lễ, 62 tuần lễ và 1 tuần lễ (câu 25, 27). Ta khó nhận thấy "7 tuần lễ" được áp dụng thể nào; nhưng 69 tuần lễ (gồm cả 7 tuần lễ kia) bằng 483 ngày, ấy là theo thuyết một ngày thay cho một năm (Ê-xê-chi-ên 4:6); như vậy là 483 năm, theo cách giải thích thường được công nhận.

483 năm nầy là thời gian ở giữa chiếu chỉ xây lại thành Giê-ru-sa-lem và sự xuất hiện của "Ðấng chịu xức dầu" (câu 25). Như đã ghi chú trên kia, chiếu chỉ xây lại thành Giê-ru-sa-lem giáng năm 457 T.C.. Thêm 483 năm vào năm 457 T.C., ta sẽ có năm 26 S.C., là chính năm Ðức Chúa Jêsus chịu phép báp-têm và khởi thi hành chức vụ công khai. Ðó là lời tiên tri của Ða-ni-ên được ứng nghiệm rất lạ lùng, đúng cả năm nữa (kỷ nguyên Cơ-đốc bắt đầu năm thứ 4 T.C.).

Hơn nữa, sau 3 năm rưỡi, Ðức Chúa Jêsus bị đóng đinh vào Thập tự giá, tức là vào khoảng tuần ấy, "Ðấng chịu xức dầu sẽ bị trừ đi", "đặng... trừ tội lỗi, làm sạch sự gian ác, và đem sự công bình đời đời vào" (câu 24, 26, 27).

Như vậy, Ða-ni-ên chẳng những dự ngôn lúc Ðấng Mê-si xuất hiện, song cũng dự ngôn thời gian Ngài thi hành chức vụ công khai và sự chết của Ngài để đền tội lỗi loài người.

Có người nghĩ rằng Ðức Chúa Trời ngưng niên biểu của Ngài lúc Ðấng Christ chịu chết, cứ để nguyên vậy đang khi dân Y-sơ-ra-ên bị tản lạc, và nửa cuối của "một tuần lễ" thuộc về kỳ sau rốt.

 

Tóm tắt các lời tiên tri của Ða-ni-ên

Bốn nước, rồi tới Nước đời đời của Ðức Chúa Trời (đoạn 2).

Nê-bu-cát-nết-sa bị chứng điên và được lành (đoạn 4).

Ðế quốc Ba-by-lôn sụp đổ và đế quốc Ba-tư dấy lên (đoạn 5).

"Ðế quốc thứ tư," "mười cái sừng" của nó và cái "cái sừng nhỏ khác" (đoạn 7).

Ðế quốc Hy-lạp và "bốn cái sừng" của nó (đoạn 8).

"Bảy mươi tuần lễ," thời gian từ Ða-ni-ên đến Ðấng Mê-si (đoạn 9).

Các hoạn nạn của Ðất Thánh trong thời gian giữa Cựu Ước và Tân Ước (đoạn 11).

Các dấu hiệu về kỳ sau rốt (đoạn 12).

 

Ðoạn 10 -- Thiên sứ của các nước

Sự hiện thấy cuối cùng nầy (đoạn 10, 11, 12) xảy ra hai năm sau khi dân Do-thái trở về xứ Pa-lét-tin (534 T.C.). Ðức Chúa Trời giở bức màn lên và tỏ cho Ða-ni-ên thấy một vài thực sự của thế giới vô hình, -- tức là cuộc giao tranh tiếp diễn giữa các bậc trí tuệ siêu nhân, một bên thiện, một bên ác, để cố gắng kiểm soát trào lưu của các nước; một vài bậc ấy tìm cách che chở dân Ðức Chúa Trời. Mi-ca-ên là thiên sứ bảo vệ dân Y-sơ-ra-ên (câu 13, 21). Một thiên sứ không được ghi tên, trò chuyện với Ða-ni-ên. Hy-lạp có thiên sứ riêng của mình (câu 20) và Ba-tư cũng vậy (câu 13, 20). Dường như Ðức Chúa Trời tỏ cho Ða-ni-ên thấy một vài cán bộ bí mật của Ngài đang hoạt động để thực hiện sự hồi hương của dân Y-sơ-ra-ên. Một thiên sứ giúp đỡ Ða-ri-út (11:1). Trong đoạn nầy, các thiên sứ ấy được tỏ ra là đang chăm chú đến số phận dân Y-sơ-ra-ên; và trong sách Khải Huyền, thì họ được tỏ ra là chăm chú đến số phận của Hội Thánh. Ở Khải Huyền 12:7-9, Mi-ca-ên và các thiên sứ của mình giao chiến với Sa-tan và các quỉ sứ của nó. Theo thơ Ê-phê-sô 6:12, các quyền lực gian ác của thế giới vô hình là kẻ thù chánh yếu mà tín đồ Ðấng Christ phải giao tranh với. Khi Ðức Chúa Jêsus giáng sanh, thì các thiên sứ rất hoạt động. Ðức Chúa Jêsus tin có thiên sứ (xem ở dươi Ma-thi-ơ 4:11).

 

Ðoạn 11 -- Các vua phương Bắc và các vua phương Nam

Các đoạn 2, 7, 8, 9, 11 chứa những lời dự ngôn về 4 đế quốc và các biến cố từ Ða-ni-ên đến Ðấng Christ; các đoạn ấy dường như có liên quan đến những cường quốc trên thế giới về sau và những biến cố tiếp diễn từ thời Ðấng Christ cho tới kỳ sau rốt. Ðây là đại cương sử ký thế giới gồm trong các đoạn ấy:

Ðế quốc Ba-by-lôn (606-536 T.C.).

Ðế quốc Ba-tư (536-332 T.C.).

Ðế quốc Hy-lạp, sau chia làm 4 nước (331-146 T.C.).

Chiến tranh giữa các vua Hy-lạp cai trị khu Sy-ri và khu Ai-cập (323-146 T.C.).

Antiochus Epiphane và việc hắn xúc phạm thành Giê-ru-sa-lem (175-164 T.C.).

Ðế quốc La-mã (146 T.C.- 400 S.C.).

Thủ lãnh Giáo hội kia cầm đầu đế quốc bá chủ thế giới (thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 18).

Hồi giáo cai trị Ðất Thánh (thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 20).

Những hoạn nạn trên thế giới và sự sống lại nhằm "kỳ cuối cùng."

Những lời dự ngôn nầy cứ lần lần giải thích thêm chi tiết. Ở đoạn 2 có lời tuyên bố đại cương rằng có 4 đế quốc bá chủ thế giới từ thời Ða-ni-ên cho đến thời Ðấng Mê-si. Ở đoạn 7 có chi tiết về đế quốc thứ tư. Ở đoạn 8 có chi tiết về đế thứ quốc thứ hai và đế quốc thứ ba. Ở đoạn 11 có thêm chi tiết về đế quốc thứ ba.

Ðế quốc thứ ba là đế quốc Hy-lạp do A-lịch-sơn đại đế sáng lập năm 331 T.C.. Khi ông qua đời, thì đế quốc nầy chia ra giữa các tướng của ông và trở thành: Hy-lạp, Tiểu-Á-tế-á, Sy-ri, Ai-cập. Trong đoạn nầy, các vua Sy-ri được gọi là "vua phương Bắc," còn các vua Ai-cập được gọi là: "vua phương Nam." Ða-ni-ên dự ngôn về cuộc hành quân của các vua nầy 200 năm trước khi có đế quốc Hy-lạp và 400 năm trước khi có những vua nầy. Lời ông mô tả tỉ mỉ các cuộc hành quân của họ tỏ ra dự ngôn và lịch sử theo sau ăn hiệp với nhau một cách rất lạ lùng. Ðoạn 11 là lịch sử viết trước của thời kỳ giữa Cựu Ước và Tân Ước. Dưới đây là đại lược các biến cố ăn hiệp với những câu Kinh Thánh đã dự ngôn nó:

"Ba vua trong nước Phe-rơ-sơ" (câu 2): Ấy là Si-ru, Cambyse và Ða-ri-út Hystaspe. "Vua thứ tư" là Xerxès, vua Ba-tư giàu có nhứt và hùng mạnh nhứt, đã xâm lăng Hy-lạp, song bị thất trận tại Salamine (480 T.C.).

"Một vua mạnh" (câu 3) là A-lịch-sơn đại đế. Nước của vua nầy bị chia ra làm "bốn" (câu 4), là Hy-lạp, Tiểu-Á-tế-á, Sy-ri, Ai-cập.

"Vua phương Nam" (câu 5) là Ptolémée I, vua Ai-cập. "Một trong các tướng của vua" là Séleucos Nicartor; ông nầy vốn là một tướng ở dưới quyền Ptolémée, đã trở thành vua Sy-ri và là vua kế vị hùng mạnh nhứt của A-lịch-sơn đại đế.

"Công chúa" (câu 6): Ðây là Bérénice, con gái của Ptolémée II, gả cho Antiochus II và bị mưu sát.  "Một chồi ra từ rễ công chúa" (câu 7) là Ptolemée III, em của Bérénice, đã xâm lăng Sy-ri để trả thù, và thắng một trận lớn (câu 8).

"Hai con trai" (câu 10) là Séleucos III Antiochus III (đại đế). Câu 11-12: Ptolémée IV đánh bại Antiochus III, gây cho tổn thất nặng nề, trong trận Raphia, gần biên giới Ai-cập (217 T.C.). Câu 13: 14 năm sau, đem đạo quân lớn trở lại đánh Ai-cập. Câu 14: Người Do-thái giúp đỡ Antiochus. Câu 15: Antiochus đánh bại các lực lượng của Ai-cập. Câu 16: Antiochus, chiếm xứ Pa-lét-tin. Câu 17: Antiochus gả con gái, là Cléopâtre cho Ptolémée V, mong nhờ tình thông gia bịp bợm mà kiểm soát được Ai-cập. Nhưng nàng đã theo chồng. Câu 18, 19: Bấy giờ Antiochus xâm lăng Tiểu-Á-tế-á và Hy-lạp, rồi bị đạo quân La-mã đánh bại tại Magnésie (190 T.C.). Ông trở về xứ mình và bị giết.

"Kẻ đáng khinh dể" (câu 21-35) là Antiochus Epiphane. Câu 21: Hắn không phải là kẻ kế vị chánh thống, nhưng đã dùng mưu chước quỉ quyệt mà được ngôi vua. Câu 22-25: Hắn tự tôn làm vua Ai-cập, một phần bởi võ lực, một phần bởi mưu mô lừa gạt. Câu 26: Ptolémée VI, con trai của Cléopâtre, cháu của Antiochus, bị bầy tôi phản bội, nên thua trận. Antiochus và Ptolémée làm bộ thân thiện, nhưng lại tranh giành và phản bội nhau. Câu 28: Trên đường từ Ai-cập trở về, Antiochus tấn công Giê-ru-sa-lem, giết 80 ngàn người Do-thái, bắt 40 ngàn người và bán 40 ngàn người làm tôi mọi. Câu 29: Antiochus lại xâm lăng Ai-cập. Nhưng hạm đội La-mã bắt buộc hắn phải rút lui. Câu 30-31: Hắn trút cơn thạnh nộ trên thành Giê-ru-sa-lem, và trong lúc điên cuồng, hắn xúc phạm cả Ðền thờ. Câu 32: Có những người Do-thái bội đạo giúp đỡ hắn. Câu 32-35: Sự nghiệp hiển hách của các anh em Macchabées anh dũng.

Về câu 36-45, thì có ý kiến khác nhau, có người nói rằng nó luận về Antiochus Epiphane: người thì cho là chỉ về thời kỳ Hồi giáo chiếm Ðất Thánh; người thì tưởng là chỉ về Antichrist, người lại cho là chỉ về cả ba và "đã bắt đầu ứng nghiệm lần đầu."

 

Ðoạn 12 -- Kỳ cuối cùng

Ðể chấm dứt bức họa các thời kỳ và biến cố của lịch sử thế giới, Ða-ni-ên lẹ làng tiến tới kỳ cuối cùng (câu 4, 9, 13), là lúc sẽ có tai nạn chưa từng thấy (câu 1), theo sau có sự sống lại của kẻ chết và sự vinh hiển đời đời cho các thánh đồ (câu 2, 3).

"Có tai nạn, đến nỗi từ khi mới có nước đến kỳ đó cũng chẳng có như vậy bao giờ" (câu 1). Câu nầy không phải là không thể ứng dụng cho thế hệ chúng ta: Nào khảo đả, đau đớn và chết mất của nhiều toàn thể dân tộc, do tay bọn độc tài như quỉ sứ. Có lẽ không khốc liệt hơn những sự hung bạo do tay của Antiochus, Titus, các hoàng đế La-mã và các thủ lãnh Giáo hội của thời Tôn giáo Pháp đình (Inqufsition), nhưng với một mực độ vô song trong tất cả lịch sử từ trước đến nay. Nhưng chưa đến cuối cùng đâu.

"Nhiều kẻ sẽ đi qua đi lại, và sự học thức sẽ được thêm lên" (câu 4). Ðó là đặc điểm của kỳ cuối cùng. Ðiều nầy cũng ứng dụng cho thế hệ chúng ta, chớ không còn ứng dụng cho thế hệ nào khác: Xe lửa, xe hơi, tàu biển, phi cơ, sách vở, báo chí, máy thâu thanh, đó là những phương pháp du hành và phổ biến trí thức với một mực độ chưa hề có ai mơ tưởng trong bất cứ thời kỳ lịch sử quá khứ nào.

Và ngày nay, trên hết mọi sự đó, đã có bom nguyên tử, làm cho lòng người ta khủng khiếp đến nỗi ta tự hỏi phải chăng mình thật đang sống trong thời kỳ mà Ðức Chúa Jêsus phán là khung cảnh tái lâm của Ngài: "Dưới đất, dân các nước sầu não, rối loạn vì biển nổi tiếng om sòm và sóng đào. Người ta nhơn trong khi đợi việc hung dữ xảy ra cho thế gian, thì thất kinh, mất vía" (Lu-ca 21:25-26)?