Trang ChủHy VọngGiúp Đỡ Đời SốngChuyện Đời SốngPhúc ÂmChia Sẻ
[ English | Vietnamese ]

Câu Chuyện Của Một Cụ Già

Audio

Trích từ "Những Kho Tàng Của Vùng Băng Tuyết", câu chuyện ở Thụy-sỉ, viết bởi Patricia St. John, Nhà xuất bản Moody, quyền xuất bản năm 1952. Được dùng với sự cho phép.

Tôi là người con duy nhất trong gia đình, và không có thứ gì trên thế gian này mà cha tôi không cho tôi. Nếu có một đứa trẻ nào bị hư hỏng bởi được nuông chìu quá mức, thì chắc có lẻ đó là tôi.

Tôi là một cậu bé khéo léo, bởi vì tánh ích kỷ của tôi, cho nên khi tôi lớn lên tôi đã được thừa hưởng một địa vị tốt trong nhà băng. Tôi làm việc rất chăm chỉ và đã đi lên trên địa vị cao nhất. Tôi đã yêu một cô gái và đã thành hôn với cô ta. Thượng-Đế đã ban cho chúng tôi hai đứa con trai, và trong những năm đầu của cuộc sống chung với nhau, tôi tin tưởng rằng tôi đã làm một người cha tốt và một người chồng tốt.

Nhưng rồi tôi đã dính líu với nhiều bạn xấu, những người mà đã làm tôi vui-thích và đã mời tôi tới nhà của họ. Họ đã bị quyến rũ bởi cờ bạc, và họ đã say sưa với rượu chè. Tôi đã khâm phục họ và đã bắt đầu học theo cách sống của họ. Dần dần tôi đã bắt đầu sài tiền càng ngày càng nhiều trong việc rượu chè và cờ bạc.

Tôi không cần kể cho bạn nghe về những năm đó. Tôi càng ngày càng vắng mặt ở nhà, và thường về nhà trong sự say sưa vào những buổi tối. Hai đứa con trai nhỏ của tôi đã lớn lên với sợ hãi về tôi và cũng không yêu thích tôi. Vợ tôi đã viện cớ giùm cho tôi và đã cầu nguyện cho tôi, nhưng tôi cũng không thể từ bỏ những việc làm xấu của tôi. Rượu chè đã đưa tôi đến sự tột cùng của nó, và tôi đã biết rằng tôi cũng không có sức mạnh gì hơn chính bản thân tôi để có thể vượt ra khỏi nó.

Tiền bạc của chúng tôi đã bắt đầu tiêu tan, và người ta bắt đầu nói về những chuyện xấu của tôi. Giám đốc nhà băng đã cảnh cáo tôi hai lần, nhưng đến lần thứ ba, khi tôi được tìm thấy trong tình trạng say sưa và hành động bừa bải trên đường xá, ông ấy đã đuổi tôi. Ngày đó tôi đi về nhà tỉnh rượu và đã kể cho vợ tôi nghe rằng tôi đã bị mất việc. Vợ tôi đã trả lời một cách đơn giản rằng, "Như vậy tôi sẽ phải đi làm. Chúng ta không thể làm cho hai đứa con trai bị thất vọng."

Tôi đã cố gắng tìm một công việc khác, nhưng câu chuyện của tôi đã được rao truyền, và không có ai muốn nhận tôi đi làm. Tôi đã cố gắng kiếm tiền bằng cách chơi cờ bạc, nhưng tôi không bao giờ gặp may mắn. Tôi đã thua hết những đồng tiền nhỏ mọn của tôi.

Vợ của tôi đã phải đi làm mỗi ngày, vừa dọn dẹp nhà cửa và vừa lo cho những đứa con trai, nhưng vợ tôi cũng không thể kiếm đủ tiền để nuôi sống cho cả gia đình. Cho đến một ngày nọ vợ tôi đã đến và kể cho tôi nghe rằng gia đình chúng tôi đã bị nợ, và chúng tôi đã không thể trã được số nợ này.

Tôi đã ở trong tình trạng tuyệt vọng vì tiền: để trã những món nợ này và mua thêm rượu cho chính tôi. Tôi đã không thể làm được việc gì trong nhà băng như một người có chức quyền và được tin tưởng. Tôi biết được những ngõ nghách ra vào trong nhà băng, và tôi đã quyết định đi cướp nhà băng.

Kế hoạch của tôi, là một kế hoạch khéo léo, đã thành công; nhưng nó đã không khéo léo đủ. Cho nên tôi đã bị phát hiện và đã bị ra tòa, vì tôi đã không thể trả lại số tiền và việc cướp nhà băng này là một vụ cướp lớn, cho nên tôi đã bị giam cầm trong tù một thời gian dài.

Vợ tôi đã bị bịnh trong nhiều tuần qua. Cô ta đã làm việc quá sức, và cô ta cũng không ăn thứ gì, vì làm như thế thì mới cớ đủ đồ ăn cho hai đứa con trai. Ba lần vợ tôi đà đến nhà tù thăm tôi, cô ta trông xanh-xao và tiều tụy vô cùng. Sau đó đứa con trai lớn của tôi đã viết thơ cho tôi biết vợ tôi đã bị bịnh và không thể đến thăm tôi được. Một vài tuần sau đó, một cảnh sát viên đã dẫn tôi đến cạnh vợ tôi để nói lời từ giả cuối cùng với vợ tôi. Vợ tôi đang chết dần; người ta nói là cô chết bởi vì bịnh lao phổi. Còn tôi thì nói rằng vợ tôi chết vì thất vọng, và tôi đã giết chết cô ta.

Tôi đã ngồi cạnh vợ tôi trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ, với bàn tay cô ta trong bàn tay tôi. Vợ tôi đã nói với tôi về tình yêu và lòng thương xót của Thượng-Đế, và về sự tha-thứ những tội lổi. Tôi đã ở cạnh vợ tôi cho đến khi cô ta chết, và khi đó cảnh sát viên đã dẫn tôi về nhà giam.

Tôi nhớ rất ít về những tháng tiếp sau đó. Tôi hình như không còn cãm giác gì nữa và hình như đã lạc đường trong sự chán nãn. Tôi chỉ có một niềm an ủi duy nhất. Trong cả cuộc đời tôi, tôi đã yêu thích nghề điêu khắc gỗ, và trong những giờ rãnh, nhà tù đã cho tôi có những dụng cụ của tôi, và để cho tôi chuốt gọt một ít gỗ. Tôi càng ngày càng trở nên khéo léo hơn, và một người cai ngục tốt bụng đã đem những sản phẩm của tôi đi bán trong thành phố. Tôi đã làm được một ít tiền bằng cách này và đã giữ nó một cách ham muốn. Một ngày nọ, tôi giả sử rằng tôi nên phải làm lại cuộc đời.

Ngày đó đãđến sớm hơn tôi dự tín. Tôi được mời đến gặp ông thống đốc và được cho biết rằng trong vòng ba tuần nữa tôi sẽ được trã lại tự do bởi vì hạnh-kiểm tốt của tôi.

Tôi đi lang thang trở về phòng của những người tù và không biết là nên thỏa lòng hay nên đáng tiếc. Tôi giả sử là tôi nên vui vì được rời khỏi nhà tù, nhưng tôi nên đi đâu, và làm thế nào để bắt đầu lại cuộc đời? Có một việc mà tôi đã quyết định. Đó là những đứa con trai của tôi không nên bao giờ gặp lại tôi, hoặc biết tôi ở đâu. Chúng nó đã được nhận làm con nuôi bởi ông bà của chúng nó, và tôi cũng biết rằng chúng nó đang trưởng thành những đứa con trai tốt với những tương lai tốt đẹp phía trước chúng nó. Không bao giờ, chúng nó phải bị khắc ghi với tiếng xấu của tôi hay là bị che lấp bởi quá khứ của tôi. Đối với những đứa con tôi, tôi sẽ được coi như là đã chết.

Ngoài chuyện đó ra, tôi không biết chuyện gì khác nữa. Người thống đốc đã hứa giúp tôi làm một bắt đầu mới, nhưng tôi không muốn để lại vết tích nào về nơi tôi sẽ đi tới, cho nên tôi đã từ chối sự giúp đỡ của ông ta. Khi ngày phóng thích của tôi đến, tôi đã rời khỏi với một ít tiền trong túi của tôi và đã đi chiếc xe lửa đầu tiên lên trên những ngọn núi.

Tôi đã ra đi tới ngôi làng này, bởi vì tôi đã thấy một người đàn ông đang trong sự khó khăn với một đàn bò mà chúng đang cố gắng vượt qua hàng rào bị gẫy. Tôi đã giúp ông ta dẫn chúng trở lại trên đường, và khi đó tôi đã hỏi ông nếu ông có thể cho tôi việc làm ở đây.

Ông ấy không cần tôi, nhưng đã chỉ tôi tới một căn nhà ván (ỡ miền núi Thụy-sĩ), khoãng nữa đường phía trên ngọn núi. Ở trên đó, ông ta kể cho tôi rằng, có một người miền quê mà con trai của ông ta đã đi xuống dưới thành phố để học về thương-mãi (buôn bán). Ông này rất cần một người thay thế chổ của con ông ta.

Tôi sẽ không bao giờ quên được ngày đó! Những cây thủy-tiên mọc đầy ngoài đồng khi tôi đi lên đồi. Tôi đã tìm thấy ngôi nhà ván, và chính người đàn ông miền quê đó đang bửa củi bên ngoài khi tôi đến. Tôi đã đi tới và đứng trước mặt ông ấy. Tôi vừa mệt vừa đói bụng vừa chán nản.

"Tôi nghe nói ông đang cần một người chăn bò", tôi bắt đầu hỏi ông ta, "vậy ông có mướn tôi không?"

Ông ta nhìn tôi từ đầu đến cuối. Gương mặt của ông ta là người tốt bụng và cặp mắt ông ta nhìn có hảo-tâm.

"Bạn không phải đến từ làng của chúng tôi," ông ta nói. "Bạn đã tới từ nơi nào, và bạn là ai?"

"Tôi tới từ Geneva."

"Nghề của bạn là gì?"

"Tôi không có nghề nghiệp gì cả."

"Nhưng bạn đã làm gì trong quá khứ cho tới bây giờ?"

Tôi đã nghĩ ra một vài chuyện nói láo tốt trong đầu tôi, nhưng người đàn ông này đã nhìn thẳng trực tiếp vào tôi, và gương mặt của ông ta rất thật thà mà tôi đã không thể nói láo. Tôi muốn ông ta hoặc là biết tôi thật sự là ai, hoặc là không biết gì tôi cả.

"Tôi vừa mới ra khỏi tù," tôi đã trã lời một cách đơn giản.

"Tại sao bạn đã bị vào tù?"

"Bơỉ vì việc ăn cắp tiền."

"Làm thế nào tôi có thể biết rằng bạn sẽ không ăn cắp tiền của tôi?"

"Bởi vì tôi muốn bắt đầu lại cuộc đời, và tôi xin ông hãy tin tưởng tôi. Nếu ông không tin tôi, tôi sẽ rời khỏi nơi đây."

Một lần nữa, ông ta nhìn tôi từ đầu đến cuối. Sau đó ông đã đưa tay ông ta ra cho tôi, và tôi đã ngồi xuống chiếc ghế dài cạnh ông và đã khóc. Nhà tù làm một người đàn ông mềm yếu hơn.

Tôi đã làm việc cho ông ta ngày và đêm trong năm năm. Tôi đã không làm bạn với ai hết và đã làm việc không nghĩ ngơi. Niềm vui duy nhất của tôi là làm việc cho người đàn ông mà tôi yêu mến và người mà đã tiếp rước tôi khi những người khác đã rời bỏ tôi. Tôi thường thắc mắc tại sao ông ta lại làm điều đó cho tôi, cho đến một đêm nọ tôi đã nghe ông đang nói chuyện với con trai của ông, người mà thường về nhà từ thành phố để thăm ông vào cuối tuần.

"Cha," người con trai nói, "tại sao cha lại tin tưởng người tù tội đó, người mà không có phẩm chất gì cả? Chắc chắn, đó làmột việc làm không được khôn ngoan lắm."

"Hởi con," người đàn ông trả lời, "Chúa đã chấp nhận những người có tội, và chúng ta là những môn-đồ của Ngài."

Vào mùa hè, ông ta và tôi dẫn đàn bò lên ngọn núi, và sống trong ngôi nhà ván cũng là nơi tôi đang sống bây giờ. Sự bình an của ngọn núi xem như đi vào trong tâm hồn tôi và làm lành vết thương lòng tôi. Tôi là người có tội, ông ta là thánh, bông hoa thì mọc lên trên những cái dốc, hoàng hôn thì rất đẹp, và những buổi sáng sớm thì trong mát. Không có sự khác biệt nào. Tôi đã bắt đầu tin tưởng vào tình yêu và lòng thương-xót của Thượng-Đế.

Nhưng bốn năm sau đó, ông chủ của tôi đã bắt đầu trở nên yếu hơn và đã bị bịnh. Ông đã đi đến bác- sỉ để chửa bịnh, nhưng không có thuốc chữa cho căn bịnh của ông. Tôi đã săn sóc ông ta trong một năm và đứa con trai của ông thường đến thăm ông trong lúc này; nhưng cuối cùng khi thời gian đến thì ông đã chết, và tôi đã còn lại trong cô đơn. Vào cái đêm ông ta chuẩn bị rời khỏi trái đất này, ông đã nói chuyện với tôi, cũng như vợ tôi đã nói với tôi, về tình yêu và lòng thương-xót của Thượng-Đế, và về sự tha-thứ những tội lỗi.

Vì thế tôi đã mất người bạn duy nhất của tôi, mặc dù con trai của ông ta đối xử rất tốt với tôi. Lúc này con trai của ông ấy là một người đàn ông giàu có; anh ấy đã bán đàn bò và đã cho tôi ngôi nhà ván. Vì vậy tôi đã bán một con dê và một vài con gà-mái, gom góp một ít đồ dùng và đi đến sống ở ngôi nhà ván này cho tới bây giờ.

Tôi chỉ có một người bạn - là ông chủ tiệm - trong thành phố, đó là người bán những sản phẩm chạm khắc gỗ của tôi; ông ta đôi khi cho tôi biết tin tức về những đứa con tôi. Những đứa con tôi đã lớn lên thành những người đàn ông tốt và chúng nó có được cuộc sống tốt; một đứa là bác sỉ và một đứa là thương gia. Chúng nó không biết rằng tôi còn sống, và điều đó là tốt hơn. Tôi không có cái gì để cho chúng nó, và danh của tôi sẽ làm sỉ-nhục cho chúng nó.

Nhưng qua những cuộc đời và nhưng lời nói của ông chủ và của vợ tôi, tôi đã tin vào tình yêu và lòng thương-xót của Thượng-Đế và về sự tha-thứ những tội lỗi. Tôi không thể trả lại tiền cho những người mà tôi đã ăn cắp, bởi vì tôi không biết họ, nhưng tôi làm việc chăm chỉ. Tôi đã để dành gần được số tiền mà tôi đã ăn cắp, và khi tôi đã để giành đủ số tiền đó, tôi sẽ đi tìm người nào mà thật sự cần nó - và với người ấy tôi sẽ trã món nợ của tôi.

Bạn nói với tôi rằng không có cách nào để tôi có thể làm lại cuộc đời tôi, nhưng bạn đã sai lầm. Tôi là người đã phạm tội quá xa, xa đến nổi chắc có lẻ nhiều hơn những việc mà bạn đã làm, và tôi đã bị hình phạt bằng cách mà một cậu con trai như bạn có thể chưa từng biết đến. Nhưng tôi tin tưởng rằng Thượng-Đế đã tha thứ cho tôi, và tôi đang dùng những ngày còn lại của cuộc đời tôi để làm việc nhằm mục đích trã lại những gì tôi còn thiếu nợ, và tôi đang thay đổi để trở thành một người mà Thượng-Đế dự định sẵn cho tôi. Những gì tôi có thể làm được là những gì mà các bạn có thể làm được. Quá khứ của chúng ta, chúng ta phải giao cho Thượng-Đế.

Tác giả: Patricia St. John
Do D. Ngô chuyển ngữ

© 1952-2002 Moody Press. Được dùng với sự cho phép.